Hiến pháp Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hiến pháp Nhật Bản (Nihon-Koku Kenpō, 日本国憲法, Nhật Bản Quốc Hiến Pháp) là một văn bản trên luật được thông qua và chính thức có hiệu lực năm 1947, được soạn ra nhằm dọn đường cho một chính quyền đại nghị cũng như cho phép bảo đảm các quyền cơ bản nhất của con người. Theo đó Thiên hoàng là ”Biểu tượng của quốc gia, và cho sự hoà hợp của dân tộc”, và chỉ có vai trò trong các buổi lễ quan trọng nơi mà ông phục vụ các nghi thức như một người đứng đầu quốc gia nhưng không giữ bất kì quyền lực chính trị nào. Được biết đến với tên “Bản Hiến pháp hòa bình” của Nhật Bản và là một trong các bản Hiến pháp nổi tiếng bằng tuyên bố từ bỏ quyền phát động chiến tranh như được qui định trong Điều 9, và trong chừng mực nào đó, cho phép Nhật Bản theo đuổi một chính quyền pháp trị trong khi duy trì một nền quân chủ (lập hiến). Bản Hiến pháp được soạn thảo khi Nhật Bản còn được điều hành bởi lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai với dự tính thay thế Hệ thống quân chủ chuyên chế trong tay chính quyền quân phiệt với một Thể chế dân chủ đại nghị. Hiện bản Hiến pháp này chưa trải qua bất kì sự chỉnh sửa nào kề từ khi được chấp thuận thông qua.

Điều 9[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyên bố từ bỏ quyền khai chiến:

Nhân dân Nhật Bản thành thật mong muốn một nền hoà bình quốc tế dựa trên chính nghĩa và trật tự, cam kết vĩnh viễn không phát động chiến tranh như là một phương tiện giải quyết xung đột quốc tế bao gồm chiến tranh xâm phạm chủ quyền dân tộc và các hành vi vũ lực hoặc các hành vi đe doạ bằng vũ lực. Để thực hiện mục đích ghi ở trên, lục quân, hải quân và không quân cũng như các tiềm lực chiến tranh khác sẽ không được duy trì. Quyền tham chiến của đất nước sẽ không được công nhận.

Vào kỉ niệm lần thứ 60 ngày ra đời bản Hiến pháp, ngày 3 tháng 5 năm 2007, hàng ngàn người đã xuống đường bày tỏ sự ủng hộ cho “Điều 9”, các thành viên chính phủ sau đó cho rằng đây là lời kêu gọi cho một bản Hiến pháp hòa bình có khả năng tuyên bố chiến tranh và nên có các động thái thích hợp của chính phủ đối với những lời kêu gọi như vậy. Một văn bản dưới luật lập tức được nghị viện thông qua, theo đó một cuộc trưng cầu dân ý cho một bản sửa đổi Hiến pháp như vậy có thể được tổ chức sớm nhất 2010 và cần một sự chuẩn thuận đa số (cả Hạ việnThượng viện) đề thông qua.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản Hiến pháp dài gần 5000 chữ, trong đó bao gồm phần mở đầu và 103 Điều khoản trong 11 Chương. Gồm các nội dung về:

  • Nhật hoàng (1-8)
  • Tuyên bố từ bỏ quyền tuyên chiến (9)
  • Quyền và nghĩa vụ công dân(10-40)
  • Quốc hội (41-64)
  • Nội các (65-75)
  • Tư pháp (76-82)
  • Tài chính (83-91)
  • Chính quyền địa phương (92-95)
  • Điều kiện thay đổi Hiến pháp (96)
  • Tòa đại hình (97-99)
  • Điều khoản bổ sung (100-103)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]