Hoàng thái tử Naruhito

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Naruhito)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đức Nhân
徳仁
Naruhito
Hoàng thái tử Thân vương
Tôn thất Hoàng gia Nhật Bản
Crown Prince Naruhito (2018).jpg
Hoàng thái tử năm 2018
Hoàng thái tử Nhật Bản
Tại vị23 tháng 2 năm 1991 - nay
&0000000000000028.00000028 năm, &0000000000000054.00000054 ngày
Tiền nhiệmHoàng thái tử Akihito
Kế nhiệmđương nhiệm
Thông tin chung
Phối ngẫuVương phi Masako
Hậu duệNội thân vương Aiko
Tước hiệuHIH Hoàng thái tử Nhật Bản
HIH Hạo cung
Thân phụThiên hoàng Akihito
Thân mẫuHoàng hậu Michiko
Sinh23 tháng 2, 1960 (59 tuổi)
Đông cung, Tokyo

Hoàng thái tử Naruhito Thân vương (皇太子徳仁親王 (こうたいしなるひとしんのう) (Hoàng thái tử Đức Nhân thân vương) Kōtaishi Naruhito Shinnō?, (1960-02-23)23 tháng 2, 1960) là con trai cả của đương kim Thiên hoàng Akihito và hoàng hậu Michiko, là người thừa kế đương nhiên ngai vị Thiên hoàng của Nhật Bản.

Thời niên thiếu và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trước lúc chính thức được phong Thái tử, Naruhito mang danh hiệu Hiro-no-miya (浩宮 (ひろのみや) (Hạo Cung)?). Ông được phong Hoàng thái tử ngày 23 tháng 2 năm 1991,[1] sau khi ông nội ông là Thiên hoàng Chiêu Hòa qua đời ngày 7 tháng 1 năm 1989.

Ông tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ lịch sử ở Đại học Gakushuin lần lượt vào các năm 1982 và 1988. Giai đoạn 1983 - 1985, ông du học ở Vương quốc Anh tại Merton College, Oxford.

Thái tử Naruhito có thể chơi viola và hay đi bộ, leo núi trong thời gian rảnh. Ông đã viết nhiều bài báo và một hồi ký trong thời gian ở Oxford, The Thames And I: A Memoir Of Two Years At Oxford (ISBN 1-905246-06-4).

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 8 năm 2016, trong bài phát biểu phát sóng truyền hình quốc gia, Nhật hoàng Akihito đã tỏ ý định rõ ràng về việc thoái vị vì tuổi cao sức yếu.

Ngày 1/4/2019, Chánh văn phòng nội các Nhật Bản Yoshihide Suga tuyên bố triều đại mới của nước Nhật được đặt tên là Reiwa, đánh dấu một trong những bước cuối cùng cho lễ đăng quang kế nhiệm hoàng đế đầu tiên sau ba thập niên.

Triều đại mới Reiwa (Lệnh Hòa) sẽ bắt đầu vào 1/5, khi Thái tử Naruhito lên ngôi sau khi Nhật hoàng Akihito thoái vị vào 30/4. Ông Suga cho hay tên của triều đại mới lấy từ một bài thơ trong Vạn Diệp Tập, tuyển tập thơ cổ nhất và lớn nhất của Nhật Bản, trong đó "Rei" là may mắn, "Wa" là hòa bình, hòa hợp.

Một hội đồng 9 thành viên, bao gồm một người giành giải thưởng Nobel, đã đưa ra nhiều lựa chọn khác nhau. Tên của triều đại mới phải tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt như phải bao gồm hai ký tự tiếng Hán, dễ đọc, dễ viết, không được giống tên hoặc trùng ký tự của 4 triều đại gần nhất là Heisei, Showa, Taisho và Meiji.

Reiwa đánh dấu sự kết thúc của triều đại Heisei (đạt được hoà bình) kéo dài 30 năm, bắt đầu từ 8/1/1989. Đây sẽ là triều đại thứ 248 trong lịch sử Nhật Bản.

Điều khác biệt của triều đại mới so với 4 triều đại trước là chính phủ công bố tên của nó khi hoàng đế trị vì vẫn còn sống. Nguyên nhân là Nhật hoàng Akihito năm 2016 tuyên bố muốn thoái vị vì tuổi cao sức yếu, trái với truyền thống của những người tiền nhiệm là tại vị tới khi qua đời, đồng thời khởi động việc chuẩn bị cho lễ thoái vị đầu tiên của chế độ quân chủ Nhật Bản trong khoảng 200 năm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Naruhito, Crown Prince of Japan tại Wikimedia Commons

  1. ^ http://www.kunaicho.go.jp/e02/ed02-04.html Kunaicho.go.jp, the Imperial Household Agency website, truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2008

https://vnexpress.net/the-gioi/nhat-ban-cong-bo-nien-hieu-trieu-dai-moi-3902808.html