Thiên hoàng Go-Kōmyō

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Go-Kōmyō
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Go-Kōmyō.jpg
Go-Kōmyō by Otagi Michitomi
Thiên hoàng thứ 110 của Nhật Bản
Tại vị 14 tháng 11 năm 1643 – 30 tháng 10 năm 1654
Tiền nhiệm Thiên hoàng Meishō
Kế nhiệm Thiên hoàng Go-Sai
Thông tin chung
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Sinh 20 tháng 4 năm 1633
Mất 30 tháng 10, 1654 (21 tuổi)
An táng Tsuki no wa no misasagi (Kyoto)

Thiên hoàng Go-Kōmyō (後光明天皇 (Hậu Quang Minh thiên hoàng)/ ごこうみょうてんのう Go-Kōmyō-Tennō?, 20 tháng 4, 1633 - 30 tháng 10, 1654) là Thiên hoàng thứ 110[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2]. Triều Go-Kōmyō kéo dài từ năm 1643 đến năm 1654[3].

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi, ông có tên cá nhân của mình (imina) là Tsuguhito (紹仁 ?)[4]; và danh hiệu trước khi lên ngôi của ông Suga-no-miya (素鵞宮 ?)[5].

Ông là con trai thứ tư của Thiên hoàng Go-Mizunoo. Mẹ ông là Fujiwara no Mitsuko, con gái của viên Tả đại thần họ Fujiwara - người sau này được phong làm Tōfuku-mon'in[6]. Nữ hoàng Meishō là chị gái của hoàng hậu trước của Thiên hoàng Go-Mizunoo.

Thân vương sống cùng gia đình hoàng tộc tại cung điện Heian. Ông lập gia đình với công nương Niwata Hideko (庭 田秀子) và sinh ra công chúa Takako[7] (孝子 内 親王 - Thái hậu Reisei (礼 成 門 院)).

Năm 1642, thân vương được chị là Thiên hoàng Meishō phong làm Thái tử

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10/1643, sau khi chị cả của ông là Thiên hoàng Meishō thoái vị, thân vương nhận chiếu kế vị[8].

Ngày 14 tháng 11 năm 1643, thân vương chính thức đăng quang ngôi vua[8], lấy hiệu là Thiên hoàng Go-Kōmyō. Ông lấy niên hiệu của chị rồi lập thành niên hiệu Kan'ei nguyên niên (1643-1644).

Năm 1645, Thiên hoàng phong Shogun Tokugawa Iemitsu làm Tả đại thần[5].

Năm 1649, có một trận động đất lớn ở Edo.

Năm 1652, Nihon Odai Ichiran[9] được xuất bản lần đầu ở Kyoto dưới sự bảo trợ của tairō Sakai Tadakatsu, daimyo miền Obama của tỉnh Wakasa[5].

Năm 1653, một trận hỏa hoạn lớn phá hủy phần lớn các cung điện hoàng gia. Ngay sau đó, chính quyền cho bắt giam nhiều cô gái 12- 14 tuổi vào ngục, vì có liên quan đến trận hỏa hoạn đó[5].

Tháng 7/1654, Ingen, một nhà sư Trung Hoa đã sang Nhật Bản. Ý định của ông là cải cách thực hành của Phật giáo ở Nhật Bản.

Ngày 30 tháng 10 năm 1654 (Joo 3, ngày 20 tháng 9 âm lịch): Thiên hoàng đột ngột băng hà[7] vì bệnh đậu mùa[10]. Ông được chôn cất tại Sennyū-ji[11] vào đầu tháng 11/1654 (15 tháng 10 âm lịch). Sau khi ông qua đời, em trai là thân vương Nagahito sẽ lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Go-Sai.

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

nengō[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kan'ei (1624-1644)
  • Shōhō (1644-1648)
  • Keian (1648-1652)
  • Jōō (1652–1655)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 後光明天皇 (110)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard (1959). The Imperial House of Japan, pp. 115–116.
  3. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, pp. 412-413.
  4. ^ Ponsonby-Fane, p. 9.
  5. ^ a ă â b Titsingh, p. 412.
  6. ^ Ponsonby-Fane, p. 115.
  7. ^ a ă Ponsonby-Fane, p. 116.
  8. ^ a ă Meyer, Eva-Maria. (1999). Japans Kaiserhof in der Edo-Zeit, p. 186.
  9. ^ Nihon Ōdai Ichiran là "biên niên sử Nhật Bản", được tairō Sakai Tadakatsu, daimyo của lãnh địa Obama xuất bản bằng kỹ thuật in ấn của phương Tây. Quyền này được dịch ra tiếng Hà Lan, tiếng Pháp vào cuối thế kỷ XIX. Nội dung chủ yếu nói về sự tích các vị vua Nhật Bản, có bản đồ địa lý và các quần đảo tại Nhật Bản thời phong kiến. Xem thêm trong: Hall, John Whitney. Tanuma Okitsugu (1955)., 1719-1788, tr. 94-95; Screech, Timon.(2006). Secret Memoirs of the Shoguns: Isaac Titsingh and Japan, 1779-1822. p. 65
  10. ^ Ponsonby-Fane, p. 116
  11. ^ Titsingh, p. 413.