Thiên hoàng Go-Sai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Go-Sai
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Go-Sai.jpg
Go-Sai
Thiên hoàng thứ 111 của Nhật Bản
Tại vị 1655–1663
Tiền nhiệm Thiên hoàng Go-Kōmyō
Kế nhiệm Thiên hoàng Reigen
Thông tin chung
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Sinh 1 tháng 1, 1638(1638-01-01)
Mất 22 tháng 3, 1685 (47 tuổi)
An táng Tsuki no wa no misasagi (Kyoto)

Thiên hoàng Go-Sai (後西天皇/ ごさいてんのう Go-Sai Tenno?, 01 tháng 1, 1638 - 22 tháng 3, 1685) còn được gọi khác là Go-Saiin (後西院?) là Thiên hoàng thứ 111 [1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2]

Triều đại của Go-Sai kéo dài từ năm 1655 đến năm 1663[3].

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên húy của ông là Nagahito (良仁 (Lương Nhân)?) hoặc Yoshihito[4]; và danh hiệu trước khi lên ngôi của ông là Hide-no-miya (秀宮 (Tú Cung)?) Hoặc Momozono -no-miya[5].

Ông là con thứ tám của Thiên hoàng Go-Mizunoo, là em của hai Thiên hoàng tiền nhiệm là Thiên hoàng MeishōThiên hoàng Go-Kōmyō. Go-Sai có 28 người con, không ai kế vị ngai vàng cả[6].

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 05 Tháng 1 năm 1655, ngay sau khi vua anh là Thiên hoàng Go-Kōmyō vừa băng hà vì bệnh, thân vương Nagahito lên ngôi lấy hiệu là Thiên hoàng Go-Sai. Tên hiệu "Go-Sai" của ông (còn gọi là Go-Saiin) có nguồn gốc là một tên thay thế (hay tên khác) của vị vua tiền nhiệm sống cách ông 10 thế kỷ, Thiên hoàng Junna. Junna trong thời gian trị vì của mình có lẽ đã phải đối mặt với các cuộc đấu tranh của gia tộc Fujiwara để giữ quyền lực của ông. Thêm nữa, tên hiệu Go-Saiin cũng có nghĩa là "Hoàng đế của cung đình phía Tây" (Saiin no mikado). Chữ "Go" (tiếng Nhật nghĩa là: thứ nhì) và do đó, tên hiệu Go-Sai có thể được xác định là "Junna II".

Năm 1655, vừa lên ngôi ít lâu thì Go-Sai tiếp quốc thư của đại sứ Triều Tiên sang Nhật Bản[3].

Tháng 3/1657, đại hỏa hoạn ở kinh đô Edo (Đại hỏa hoạn Meireki), phá hủy 60-70% của thành phố[7]. Ước tính 100.000 người thiệt mạng trong đại hỏa hoạn này.

Năm 1659, Thiên hoàng cho xây dựng cầu Ryogoku (ryogokubashi) trong kinh đô Edo để tiện qua lại[3].

Năm 1661, cung điện hoàng gia tại Kyoto, Thần cung Ise bị hỏa hoạn[8].

Tháng 3 năm 1662, động đất dữ dội ở Kanto phá hủy phần lớn lăng mộ của Toyotomi Hideyoshi[3].

Ngày 05 tháng 3 1663 (Kanbun 3, ngày 26 tháng 1): Thiên hoàng Go-Sai thoái vị, nhường ngôi cho em trai út. Người em sẽ lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Reigen.

Thoái vị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi rời ngôi, ông tập trung vào việc đọc sách và viết khá nhiều quyển, trong đó có quyển "Nước và Trời: Sự kết hợp" (Suinichishū,水日集). Ông là một thiên tài của thể thơ Waka, vì ông có hiểu biết sâu sắc về kinh điển.

Triều đại của ông nhận lấy nhiều thảm họa của nước Nhật Bản: hỏa hoạn ở chùa và kinh đô, động đất, lũ lụt và cả nạn đói. Nhiều người đổ lỗi cho Thiên hoàng, nói rằng ông không có đạo đức.

26 tháng 3 năm 1685 (Jōkỳō 2, ngày thứ 22 của tháng thứ 2): Cựu hoàng Go-Sai qua đời[9]. Đúng lúc đó, một ngôi sao chổi vụt bay qua khoảng không bầu trời đêm rồi vụt tắt[10].

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

nengō[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jōō (1652–1655)
  • Meireki (1655-1658)
  • Manji (1658-1661)
  • Kanbun (1661-1673)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 後西天皇 (111)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard (1959). The Imperial House of Japan, pp. 116.
  3. ^ a ă â b Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, p. 413.
  4. ^ Ponsonby-Fane, p. 9.
  5. ^ Ponsonby-Fane, Richard (1959), p. 116.
  6. ^ Ponsonby-Fane, p. 116.
  7. ^ Blusse, Leonard & Cynthia Vaillé (2005). The Deshima Dagregisters, Volume XII 1650–1660. Leiden
  8. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959), p. 116.
  9. ^ Meyer, Eva-Maria. (1999). Japans Kaiserhof in der Edo-Zeit, p. 186.
  10. ^ Titsingh, p. 415.