Thiên hoàng Seiwa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Seiwa
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Seiwa.jpg
Thiên hoàng thứ 56 của Nhật Bản
Tại vị 858–876
Đăng quang 858
Tiền nhiệm Thiên hoàng Montoku
Kế nhiệm Thiên hoàng Yōzei
Thông tin chung
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Văn Đức Thiên hoàng
Thân mẫu Fujiwara no Akirakeiko
Sinh 850
Heian Kyō (Kyōto)
Mất 31 December 878 (age 28)
Heian Kyō (Kyōto)
An táng Minooyama no misasagi (Kyoto)

Seiwa (Thanh Hòa Thiên hoàng 清和 Seiwa Tennō ?, 850-878) là Thiên hoàng thứ 56[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2]

Triều Seiwa của kéo dài từ năm 858 đến 876[3]

Phả hệ truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Seiwa là con trai thứ tư của Thiên hoàng Montoku. Mẹ của ông là Thái hậu Fujiwara no Akirakeiko (明子), còn gọi là hoàng hậu Somedono 染 殿后). Bà là con gái của Fujiwara no Yoshifusa (藤原良房), một viên đại thần nổi tiếng trong chính quyền Nhật Bản. Ông là người em trai của Hoàng tử Koretaka (惟喬親王) (844-897).

Tên thật[sửa | sửa mã nguồn]

Ông có tên là Korehito[4], là người đầu tiên của hoàng gia được đặt tên cá nhân là "-hito". Tên này cũng phản ánh thứ bậc anh em trong Nho giáo ở Nhật Bản, về sau trở thành một truyền thống để đặt tên cho tên cá nhân của tất cả các thành viên nam của gia đình Hoàng gia theo cách này.

Ông cũng được biết đến như là Thiên hoàng như Mizunoo-no-mikado[5] hoặc Minoo-tei[6]. Lợi dụng người sẽ kế vị Thiên hoàng còn nhỏ tuổi, ông ngoại của ông là Yoshifusa từng bước thao túng chính quyền Thiên hoàng.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7/858, Thiên hoàng Montoku (Văn Đức) tuyên bố thoái vị và hoàng thái tử chuẩn bị kế ngôi vua.

Ngày 15/12/858, hoàng thái tử chính thức đăng quang và lấy hiệu là Thiên hoàng Seiwa, đặt niên hiệu là Ten'an (857-859) nguyên niên. Lấy cớ cháu ngoại mới còn ấu thơ, Yoshifusa tự phong chức Sesshō (Nhiếp chính)[7].

Đầu năm 859, cựu Thiên hoàng Montoku băng hà, Thiên hoàng Seiwa tuyên bố các lễ hội của năm nay sẽ bị đình chỉ vì thời gian quốc tang của cha mình[8].

Năm 859, Thiên hoàng cho xây dựng đền Iwashimizu Shrine ở gần thủ đô Heian-kyō. Đền này thờ thần Hachiman - thần chiến tranh của đạo Shinto[9].

Năm 876, Thiên hoàng Seiwa nhường ngôi cho con trai 5 tuổi - người sẽ lên ngôi với hiệu Thiên hoàng Yōzei. Seiwa trở thành Thái thượng hoàng. Thượng hoàng Seiwa bỏ đi tu tại chùa với pháp danh Soshin.

Ngày 31 tháng 12 năm 878 (niên hiệu Gangyō thứ 2, ngày 4 tháng 12): Thượng hoàng Seiwa qua đời ở tuổi 28[10].

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ten'an (天安 Thiên An) (857-859)
  • Jōgan (貞観 Trinh Quán) (859-877)
  • Gangyō (元慶 Nguyên Khánh) (878)

Các Công khanh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 清和天皇 (56)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard, p. 66.
  3. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, pp. 115-121. , P. 115; Brown, Delmer et al. (1979).Gukanshō, pp. 286-288; Varley, H. Paul. Jinno Shōtōki, pp. 166-17.
  4. ^ Titsingh, p. 115,
  5. ^ Varley, p. 166.
  6. ^ Brown, trang 286. Varley, p. 44; 
  7. ^ Titsingh, p. 115; Brown, p. 286.
  8. ^ Titsingh, p. 116
  9. ^ Brown, p. 288
  10. ^ Brown, p. 289; Varley, p. 170.