Thiên hoàng Konoe

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiên hoàng Konoe
Thiên hoàng Nhật Bản
Thiên hoàng thứ 76 của Nhật Bản
Tại vị 1142–1155
Tiền nhiệm Sutoku
Kế nhiệm Go-Shirakawa
Thông tin chung
Phối ngẫu Fujiwara no Tashi
Sinh June 16, 1139
Mất August 22, 1155 (aged 16)
An táng Anrakuju-in no minami no Misasagi (Kyoto)

Konoe (近衛 Konoe - tennō ?, 16 tháng 6, 1139 - 22 tháng 8, 1155) là Thiên hoàng thứ 76[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2]

Triều đại của Konoe kéo dài từ năm 1142 đến năm 1155[3]

Tường thuật truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi, ông có tên cá nhân (imina[4]) là Narihito -shinnō (体仁親王)[5]. Ông cũng được biết đến như Tosihito -shinnō[6].

Thiên hoàng Konoe là con trai thứ tám của Thiên hoàng Toba[6]. Mẹ của ông là Fujiwara Tokuko (1117-1160), vợ của Thiên hoàng Toba[7].

Kogo Fujiwara Masuko (1140-1201) là vợ của Thiên hoàng Konoe. Sau khi ông chết, bà tái hôn với Thiên hoàng Nijō. Sau đó, bà được gọi là Thái Hoàng Thái Hậu Omiya.

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1/1142, Thiên hoàng Sutoku thoái vị và người em trai còn nhỏ tuổi tuổi của ông, thân vương Narihito lãnh chiếu kế vị. Vài ngày sau, thân vương chính thức lên ngôi và lấy hiệu là Thiên hoàng Konoe. Ông đổi niên hiệu của anh trai thành niên hiệu Kōji (1142-1144). Thiên hoàng cũng đề cử Fujiwara no Tadamichi tiếp tục giữ chức vụ Nhiếp chính Hoàng gia.

Sau khi lên ngôi, Konoe thể hiện lòng hiếu thảo với cha bằng cách thăm tu viện của cha - Pháp hoàng Toba, thăm nhà Fujiwara no Tadamichi để củng cố quan hệ thân thiết với hoàng gia (1146)[8].

Tháng 7/1142 (niên hiệu Kyūan thứ tư của ông), Cung điện hoàng gia bất ngờ bị phát hỏa[9].

Thời Konoe trị vì chứng kiến sự thao túng quyền lực ngày càng lớn giữa hai dòng họ Fujiwara và Minamoto. Dòng họ Fujiwara sau các cuộc "tấn công" liên tiếp của Thiên hoàng và các dòng họ quý tộc khác thì họ ngày càng suy yếu dần. Để cứu vãn sự suy yếu, dòng họ Fujiwara đã gả cho Thiên hoàng hai công nương là Fujiwara no Tokoku (2/1150), Feï-si (4/1150)[9] để đảm bảo chỗ đứng của họ trong triều đình. Cũng trong thời trị vì của Konoe, các dòng họ quý tộc khác là Minamoto, Taira (có gốc từ các Thiên hoàng Nhật vào thế kỷ IX - X) dựa vào võ sĩ (samurai) để cạnh tranh với Fujiwara. Biểu hiện cụ thể cho sự cạnh tranh này là: năm 1150, Minamoto no Tadamichi, được Thiên hoàng phong làm daijō daijin; Taira-no Kiyomori được vua cử làm quan tòa của tòa án[10] Thiên hoàng thay cha (1153), trong khi các quý tộc của họ Fujiwara lại mâu thuẫn về quyền lực giữa Tadamichi và Yorinaga ở tòa án nhà vua[11].

Tháng 8/1155, Thiên hoàng Konoe đột ngột băng hà mà không có người thừa kế. Ngay sau đó, Pháp hoàng Toba cử con trai thứ tư của mình là thân vương Masahito lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Go-Shirakawa.

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

Nengō (Niên hiệu)[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Kōji (1142-1144)
  2. Ten'yō (1144-1145)
  3. Kyūan (1145-1151)
  4. Ninpei (1151-1154)
  5. Kyūju (1154-1156)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cơ quan nội chính Hoàng gia Nhật Bản (Kunaichō): 近衛天皇 (76)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). Các Hoàng gia Nhật Bản, tr. 80.
  3. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp 186-188. Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, pp 324-326. Varley, H. Paul. (1980). Jinno Shōtōki. p. 205.
  4. ^ Brown, tr. 264.
  5. ^ Brown, p. 324; Varley, p. 205.
  6. ^ a ă Titsingh, p. 186.
  7. ^ Kitagawa, H. (1975).The Tale of the Heike, p. 240
  8. ^ Titsingh, p. 186
  9. ^ a ă Titsingh, p. 187.
  10. ^ Titsingh, p. 188.
  11. ^ Titsingh, p. 187-188.