Thiên hoàng Tenji

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Tenji
天智天皇
てんちてんのう
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Tenji.jpg
Thiên hoàng thứ 38 của Nhật Bản
Tại vị 20 tháng 2, 668 - 12 tháng 7, 672
Tiền nhiệm Thiên hoàng Kōgyoku
Kế nhiệm Thiên hoàng Kōbun
Thông tin chung
Phối ngẫu Uy Cơ vương
Hậu duệ
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Thiên hoàng Jomei
Thân mẫu Thiên hoàng Kōgyoku
Sinh 626
Mất 7 tháng 1, 672
An táng Sơn Khoa lăng (山科陵)

Thiên hoàng Tenji (天智天皇 (Thiên Trí thiên hoàng)/ てんちてんのう Tenji-Tennō?, 626 – 7 tháng 1, 672) là vị Thiên hoàng thứ 38 của Nhật Bản theo danh sách thiên hoàng truyền thống[1][2].

Thời đại của ông bắt đầu từ năm 668 đến khi ông qua đời vào năm 672, nhưng trên thực tế đã bắt đầu từ năm 661 sau khi mẹ của ông là Tề Minh Thiên hoàng băng hà. Ông là người khá tích cực trong việc cải cách quân đội Nhật Bản sau Cải cách Taika, và việc dời đô về Tỉnh Ōmi.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi, tên của ông là Naka no Ōe no Ōji (中大兄皇子; Trung Đại Huynh hoàng tử), con trai của Thư Minh Thiên hoàngTề Minh Thiên hoàng. Sau vị Thiên hoàng huyền thoại Ứng Thần Thiên hoàng, ông là người đầu tiên và cũng là trường hợp rất ít trong lịch sử Nhật Bản mà cha lẫn mẹ đều là Thiên hoàng. Khi còn là Hoàng tử, Naka no Oe đóng một vai trò quan trọng trong việc chấm dứt sự cai trị độc tài của gia tộc Soga (蘇我; Tô Ngã).

Năm 644, nhận thấy quyền lực của họ Soga lên cao vượt quá tầm kiểm soát, ông đã liên kết với Fujiwara Kamatari (藤原鎌足; Đằng Nguyên Liêm Túc) và Soga no Kurayamada no Ishikawa no Maro (蘇我倉山田石川麻呂; Tô Ngã Thương Sơn Điền Thạch Xuyên Ma Lữ) làm cuộc Chính biến Isshi (乙巳の変; Isshi no Hen) vào tháng 7 năm 645, lật đổ và giết hại Soga no Iruka (蘇我入鹿; Tô Ngã Nhập Lộc) ngay tại tư dinh.

Cuộc chính biến diễn ra thành công khiến cha của Iruka là Soga no Emishi (蘇我蝦夷; Tô Ngã Hà Di) đã tự sát ngay sau đó (ngày 11 tháng 7) và mẹ ông là Tề Minh Thiên hoàng phải thoái vị. Giữa tháng 7 năm đó, sau khi các nhóm người của dòng họ Soga phân tán hết, Naka no Oe quyết định kết hôn với con gái của Soga no Kurayamada để đảm bảo lôi kéo sự ủng hộ của gia tộc Soga về phía ông.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc còn sống, Tề Minh Thiên hoàng đã chỉ định Naka no Oe làm người kế vị. Sau khi Thiên hoàng băng hà, Hoàng tử Naka no Oe không lên kế vị mà giữ vai trò nhiếp chính. Trong thời gian này, ông cho tiến hành dời đô tới Tỉnh Ōmi, thành lập nên Đại Tân kinh (大津京).

Năm 662, Thiên hoàng lệnh cho Kamatari cùng các đồng sự biên soạn bộ Luật Omi (近江令; Cận Giang lệnh), bộ luật đầu tiên của nước Nhật. Luật Omi gồm 22 quyển, về sau đó được sửa chữa và ban hành vào năm trị vì cuối cùng của ông (672). Tuy bộ luật này thất lạc, nhưng nó là nguồn gốc để các nhà làm luật pháp Nhật Bản soạn tiếp bộ luật Asuka Kiyomihara Ritsu-ryo (飛鳥淨御原令; Phi Điểu Tịnh Ngự Nguyên lệnh) vào năm 689; và những bộ luật này là tiền thân của bộ luật Taihō Ritsu-ryo (大宝律令; Đại Bảo luật lệnh) sẽ ban hành năm 701 về sau.

Năm 668, Thiên Trí Thiên hoàng chính thức lên kế vị. Ông đặt tên cho hoàng cư mới của mình là Phi Điểu Tịnh Ngự Nguyên Cung (飛鳥淨御原宮).

Sách Nhật Bản Thư Kỷ có đề cập một thứ nước dễ cháy mà Thiên Trí Thiên hoàng sử dụng để làm nghi lễ tại Tỉnh Echigo (nay thuộc quận Niigata). Tuy nhiên, lễ nghi này bị hoãn do Thiên hoàng lo xây lăng mộ cho mình. Khi lăng mộ xây xong, ông đã không còn thì giờ chọn người kế vị.

Thiên hoàng lệnh cho 27.000 quân do Abe no Hirafu (阿部比羅夫; A Bộ Bỉ La Phu) chỉ huy tiến đánh Triều Tiên. Trong trận đánh nổi tiếng năm 663 ở cửa sông Hakusonkô (Bạch Thôn Giang, Nhật gọi là Hakusuki no E), quân Nhật đã bị liên quân nhà ĐườngTân La đánh thua liểng xiểng đến nổi họ phải rút binh về nước.

Vấn đề kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 672, ngày 7 tháng 1, Thiên Trí Thiên hoàng băng hà, hưởng thọ 46 tuổi. Ông được an táng tại Sơn Khoa lăng (山科陵).

Triều đình nổ ra vụ tranh chấp thừa kế giữa mười bốn đứa con của ông. Cuối cùng Hoàng tử Otomo lên ngôi, sử gọi là là Hoằng Văn Thiên hoàng.

Trong 8 tháng cai trị, Hoằng Văn Thiên hoàng được các quý tộc chống lại Cải cách Taika hết lòng che chở, chống lại phe cải cách của Hoàng tử Oama, em trai của Thiên Trí Thiên hoàng. Tại Trận Sekigahara diễn ra vào tháng 8 năm 672, quân của Hoàng tử Oama đại thắng. Theo bộ sử Nhật Bản Thư Kỷ, Hoằng Văn Thiên hoàng sau khi thất bại đã treo cổ tự sát ở Yamazaki (nay thuộc Kyôto).

Sau đó, Hoàng tử Oama lên ngôi, tức Thiên Vũ Thiên hoàng.

Quan lại[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên Trí Thiên hoàng có nhiều phi tần và 16 người con:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 皇極(こうぎょく)天皇 (35) and 齊明(さいめい)天皇 (37)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard (1959). The Imperial House of Japan , pp. 49, 51
  3. ^ a ă Brown, p. 268.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]