Bước tới nội dung

Thiên hoàng Kazan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoa Sơn Thiên hoàng
Thiên hoàng Nhật Bản
Thiên hoàng thứ 65 của Nhật Bản
Trị vì24 tháng 9 năm 9841 tháng 8 năm 986
(1 năm, 311 ngày)
Lễ đăng quang và Lễ tạ ơn5 tháng 11 năm 984 (ngày lễ đăng quang)
4 tháng 1 năm 986 (ngày lễ tạ ơn)
Quan Nhiếp Chính và Quan BạchFujiwara no Yoritada
Tiền nhiệmThiên hoàng En'yū
Kế nhiệmThiên hoàng Ichijō
Thái thượng Thiên hoàng thứ 17 của Nhật Bản
Tại vị1 tháng 8 năm 98617 tháng 3 năm 1008
(21 năm, 229 ngày)
Tiền nhiệmThái thượng Thiên hoàng En'yū
Kế nhiệmThái thượng Thiên hoàng Ichijō
Thông tin chung
Sinh29 tháng 11 năm 968
Heian Kyō (Kyōto)
Mất17 tháng 3 năm 1008 (39 tuổi )
Heian Kyō (Kyōto)
An táng26 tháng 3 năm 1008
Kamiya no hotori no misasagi (Kyoto)
Thân phụThiên hoàng Reizei
Thân mẫuFujiwara no Kaishi

Hoa Sơn Thiên hoàng (花山 Kazan- Tenno, 29 tháng 11 năm 968 - 17 Tháng 3 năm 1008) là Thiên hoàng thứ 65[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống.[2]

Triều đại của Kazan kéo dài từ năm 984 đến năm 986.[3]

Tường thuật truyền thống

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi Thiên hoàng, ông có tên cá nhân (imina) là Morosada -shinnō (師貞親王).[4]

Morasada là con trai cả của Thiên hoàng Reizei. Mẹ của hoàng tử là Fujiwara no Kaneko (藤原懐子), một người con gái của sesshō Fujiwara no Koretada. Morasada là cháu trai của Thiên hoàng vừa thoái vị En'yū cũng là anh trai của Thiên hoàng Sanjō.[5]

Lên ngôi Thiên hoàng

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 10 năm 984, Thiên hoàng En'yū thoái vị và cháu trai ông, thân vương Morosada lên ngôi[6] và lấy hiệu là Kazan. Ông đổi niên hiệu Eikan của anh trai quá cố thành niên hiệu Eikan nguyên niên (10/984 - 4/985).

Cuối năm 984, Thiên hoàng ra lệnh các nhà thơ Nhật Bản tập hợp các bài thơ dân gian và biên soạn thành tập thơ Shūi Wakashū. Tập thơ gồm 20 phần, với 1.351 bài thơ. Nội dung các bài thơ có thể là ca ngợi cuộc sống vương giả của hoàng gia, tình cảnh của nông dân Nhật thời phong kiến.

Tháng 4 năm 985, Fujiwara no Tokiakira và anh trai của mình, Yasusuke đã tổ chức đấu kiếm với Fujiwara no Sukitaka và Oe-no Masahira tại kinh đô. Sau trận đấu, Masahira mất các ngón tay của bàn tay trái. Bị đối thủ truy đuổi, Oe-no Masahira bỏ trốn tới tận Omi.[5]

Tháng 2 năm 986, Thiên hoàng Kazan bị Fujiwara no Kaneie ép buộc phải thoái vị và nhường ngôi cho người cháu họ của ông là Thân vương Kanehito (con trai duy nhất của Thiên hoàng vừa thoái vị En'yū) lên ngôi và lấy hiệu là Thiên hoàng Ichijō.

Ông xuất gia theo Phật giáo và cư trú tại Kazan-ji, nơi ông trở thành một nhà sư Phật giáo; và pháp danh mới của mình là Nyūkaku.[7] Nyūkaku tiến hành các cuộc hành hương tới 33 địa điểm trên khắp tám tỉnh của khu vực Bando.

Ông mất ngày 8 tháng 2 của năm Kanko thứ năm (1008), hưởng dương 41 tuổi.[8]

Tổ chức quan lại

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kampaku, Fujiwara no Yoritada, 924-989.
  • Daijō daijin, Fujiwara no Yoritada.
  • Tả đại thần, Fujiwara no Kaneie, 929-990.
  • Nội đại thần (không chỉ định)
  • Đại nạp ngôn

nengō (niên hiệu)

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Eikan (983-985)
  • Kanna (985-986)

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nữ ngự: Fujiwara no Shishi (藤原 忯子, Đằng Nguyên Sĩ Tử, 969 – 7 tháng 8 năm 985), còn gọi là Yoshiko, con gái thứ hai của quan đại thần Fujiwara no Tamemitsu (藤原為光, Đằng Nguyên Vi Quang). Tiến cung năm 984, cư ngụ Hoằng Huy điện, rất được Thiên hoàng sủng ái. Qua đời trong lúc mang thai, Thiên hoàng vì quá đau buồn sau cái chết của bà mà quyết định xuất gia tu hành[9]
    • Bào thai chết lưu (985)
  • Nữ ngự: Fujiwara no Tōko (藤原 姚子, Đằng Nguyên Diêu Tử, 971 – 4 tháng 7 năm 989), còn gọi là Chōshi, hiệu khác là Horikawa Nyōgo (堀河女御, Quật Hà Nữ ngự), con gái của quan đại thần Fujiwara no Asamitsu, sinh mẫu là con gái của Trọng Minh Thân vương, con trai Thiên hoàng Daigo. Tiến cung năm 984, cư ngụ Lệ Cảnh điện, chỉ sau một tháng thì xuất cung, về sau không rõ hậu sự.
  • Nữ ngự: Furiwara no Tadako (藤原 諟子, Đằng Nguyên Thị Tử, ? – 28 tháng 7 năm 1035), con gái của quan đại thần Fujiwara no Yoritada; chị gái bà, Fujiwara no Nobuko là Trung cung của Thiên hoàng En'yū. Tiến cung năm 984, cư ngụ Thừa Hương điện, là một người am hiểu thơ ca cung đình.
  • Nữ ngự: Tsuyako Joō (婉子女王, Uyển Tử Vương nữ, 972 – 10 tháng 10 năm 998), con gái của Thân vương Tamehira Shinnō, sinh mẫu là con gái quan đại thần Minamoto no Takaakira. Tiến cung năm 984, từng được Thiên hoàng sủng ái một thời gian, sau khi Thiên hoàng tu hành thì tái giá với quan đại thần Fujiwara no Sanesuke.
  • Ngoại thất: Fujiwara no Genshi (藤原 儼子, Đằng Nguyên Nghiễm Tử, cuối thập niên 970? – 8 tháng 3 nǎm 1016), con gái thứ tư của quan đại thần Fujiwara no Tamemitsu, được sủng hạnh sau khi Thiên hoàng đã thoái vị. Sau khi Thiên hoàng qua đời, bà trở thành trắc thất của quan đại thần Fujiwara no Michinaga, không lâu sau thì qua đời trong lúc mang thai vì khó sinh.
  • Ngự Hạp điện Biệt đương: Nakatsukasa (中務, Trung Vụ)
    • Hoàng tử: Thân vương Kiyohito Shinnō, ban chức Đạn chính doãn.
    • Hoàng nữ chết yểu
    • Hoàng nữ: Oyabara no Otohime-no-miya (親腹乙姫宮, Thân Phúc Ất Cơ Cung, ? – 1024), về sau trở thành nữ quan thân cận của Hoàng thái hậu Jōtōmon-in.
  • Ngoại thất: Taira no Tairako (平子, Bình Bình Tử), con gái của Taira no Suketada và nữ sĩ Nakatsukasa.
    • Hoàng tử: Thân vương Akinto Shinnō, ban chức Trung vụ khanh.
    • Hoàng tử: Kakugen, xuất gia.
    • Hoàng nữ chết yểu
    • Hoàng nữ chết yểu
  • Không rõ sinh mẫu
    • Hoàng tử: Shinkan, xuất gia.

Trước khi rời khỏi ngôi vị, ngoại trừ Nữ ngự Fujiwara no Shishi từng mang thai nhưng sinh khó mà qua đời, không một ai sinh hạ được con nối dõi. Sau khi Thiên hoàng thoái vị và xuống tóc xuất gia, các vị Nữ ngự này cũng đồng loạt thoái cung và trở về phủ đệ của gia đình nhà đẻ. Sau khi trở thành Pháp hoàng, ngài lại cùng lúc dành sự sủng ái cho hai mẹ con nàng vú nuôi: người mẹ là Nakatsukasa (中務, Trung Vụ) và người con gái là Taira no Tairako (平 平子, Bình Bình Tử), đồng thời khiến cả hai cùng khai hoa nở nhụy sinh hạ hoàng tử. Chính vì biến cố hy hữu này, người đương thời đã gọi vị hoàng tử do Nakatsukasa sinh hạ là Kiyohito Shinnō (清仁親王, Thanh Nhân Thân vương) bằng tôn xưng "Haha-hara no Miya" (母腹宮, Mẫu phúc cung — ý chỉ vị cung chủ do người mẹ sinh ra), còn vị hoàng tử do người con gái Tairako sinh hạ là Akinto Shinnō (昭登親王, Chiêu Đăng Thân vương) bằng tôn xưng "Musume-hara no Miya" (女腹宮, Nữ phúc cung — ý chỉ vị cung chủ do người con gái sinh ra). Vào năm 1004, hai vị hoàng tử này chính thức trở thành con thừa tự của Reizei Jōō (冷泉上皇, Lãnh Tuyền Thượng hoàng), lần lượt được ban sắc phong hoàng tử Thân vương Tuyên hạ với tư cách là Ngũ cung và Lục cung của Lãnh Tuyền Viện. Về sau, Kiyohito Shinnō (清仁親王, Thanh Nhân Thân vương) chính là vị Thủy tổ khai sáng ra vương tộc tôn quý Shirakawa Hakuō-ke (白川伯王家, Bạch Xuyên Bá Vương gia).

Trong số bốn vị hoàng nữ của ông, chỉ duy nhất một vị công chúa do phu nhân Nakatsukasa sinh ra là thuận lợi sinh trưởng và trưởng thành. Tuy nhiên, vào đêm ngày 6 tháng 12 năm 1024, vị công chúa này (khi ấy đang vào cung hầu hạ với tư cách là một nữ quan thân cận của Hoàng thái hậu Jōtōmon-in đã bất ngờ bị phục kích và sát hại dã man ngay trên đường phố giữa đêm khuya. Sáng hôm sau, thi thể của bà được lính tuần tra phát hiện trong tình trạng không còn nguyên vẹn do bị chó hoang cắn xé, làm chấn động toàn bộ giới quý tộc Công gia tại kinh đô Kyoto. Không lâu sau, cơ quan lập pháp đã bắt giữ một nghi phạm là tu sĩ Pháp sư Ryūhan (隆範, Long Phạm). Tại công đường, tên Ryūhan này đã khai nhận rằng chính hắn đã ra tay sát hại công chúa dưới sự chỉ thị mật lệnh của quan Đại thần Fujiwara no Michimasa (藤原 道雅, Đằng Nguyên Đạo Nhã), lời tự thú này làm dấy lên sự kinh hoàng khắp triều đình. Dẫu vậy, đến ngày 28 tháng 7, một tên thủ lĩnh băng nhóm đạo tặc bất ngờ đến cơ quan hành chính tự thú và nhận trách nhiệm hoàn toàn về vụ giết người cướp của này, khiến nghi vấn về vai trò chủ mưu đằng sau của Fujiwara no Michimasa bị triều đình xóa nhòa và chìm vào quên lãng.

Ngoài ra, Pháp hoàng thuở sinh tiền cũng từng dành sự sủng ái sâu sắc cho người con gái thứ chín của quan Đại thần Fujiwara no Koretada là phu nhân Ku no Onkata (九の御方, Cửu Ngự Phương), em gái cùng mẹ với sinh mẫu của Thiên hoàng là Fujiwara no Chikako [藤原 懐子, Đằng Nguyên Hoài Tử], xét về thứ bậc vương thất thì bà chính là cô ruột của ngài. Sau khi có được hai mẹ con nàng vú nuôi, ông đã chủ động tiến cử người em trai dị mẫu của mình là Tametaka Shinnō kết hôn với bà.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Cơ quan nội chính Hoàng gia Nhật Bản ( Kunaichō ): 花山天皇 (65)
  2. Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, p.72.
  3. Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, pp. 300–302; Varley, H. Paul. (1980). Jinnō Shōtōki, p. 192; Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, pp. 148–150. , p. 148
  4. Titsingh, p. 148; Varley, p. 192; Brown, p. 264;
  5. 1 2 Titsingh, p. 148.
  6. Titsingh, p. 148; Brown, pp. 300; Varley, p. 44;
  7. Brown, p. 302.
  8. Brown, p. 306.
  9. 吉重丈夫 (2021年5月7日). “第65代・花山天皇の皇位継承”. WEB歴史街道. PHP研究所. 2023年8月31日閲覧。