Thiên hoàng Horikawa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Horikawa
Thiên hoàng Nhật Bản
Thiên hoàng thứ 73 của Nhật Bản
Tại vị 1087–1107
Tiền nhiệm Shirakawa
Kế nhiệm Toba
Thông tin chung
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân mẫu Fujiwara no Kenshi
Sinh 8 tháng 8, 1079
Mất 9 tháng 8, 1107 (28 tuổi)
An táng Nochi no Yenkyō-ji no misasagi (Kyoto)

Horikawa (堀河 Horikawa- tennō ?, 08 tháng 8, 1079 - 09 tháng 8, 1107) là Thiên hoàng thứ 73[1] vị hoàng đế của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2]

Triều đại của Horikawa kéo dài từ năm 1087 đến năm 1107[3].

Tường thuật truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi, ông có tên cá nhân của mình (imina) là Taruhito -shinnō (善仁親王)[4]. Ông cũng được biết đến như là Yoshihito -tennō.[5]

Horikawa là con trai của Thiên hoàng Shirakawa. Mẹ ông là Fujiwara no Kenshi (藤原賢子), con gái nuôi của Fujiwara Morozane.

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 03 tháng 1 năm 1087, Thiên hoàng Shirakawa thoái vị, nhường ngôi cho con trai thứ mới 8 tuổi là thân vương Taruhito. Thân vương lên ngôi, lấy hiệu là Thiên hoàng Horikawa[6]. Ông đổi niên hiệu của cha mình thành niên hiệu Ōtoku nguyên niên (1087). Mặc dù đã lên ngôi, nhưng Thiên hoàng thực tế không có quyền lực gì, mọi quyền lực của Hoàng gia đều tập trung hẳn vào tay Nhiếp chính Fujiwara Morozane, Moromichi và hai đại thần họ Minamoto. Sau khi tự xưng là Pháp hoàng (Ho'o) vào năm 1096, Shirakawa trực tiếp nắm mọi quyền lực của Triều đình. Chán cảnh bù nhìn, Thiên hoàng Horikawa lao vào các thú vui âm nhạc, thơ ca và học tập.

Khoảng năm 17 - 18 tuổi, khi có đủ kiến thức và tư chất thông minh của mình, Horikawa quyết định đích thân chấp chính. Việc làm này cuả ông bị cha là Pháp hoàng Shirakawa, các quan của họ Fujiwara phản đối. Cuộc cạnh tranh quyền lực giữa Pháp hoàng và Thiên hoàng (có họ Fujiwara đứng đằng sau) ngày càng quyết liệt. Để duy trì thời gian kế vị Hoàng gia và phản đối ý muốn đích thân chấp chính của Thiên hoàng Horikawa, Pháp hoàng quyết định nuôi dưỡng con trai của Horikawa, thân vương Munehito và đích thân phong ông này làm Thái tử kế vị.

Ngày 09 Tháng 8 năm 1107 (niên hiệu Kajō thứ 2, ngày thứ 19 tháng 7): Horikawa qua đời ở tuổi 29[7]. Ngay sau đó, Pháp hoàng Shirakawa đưa thân vương Munehito mới 5 tuổi lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Toba.

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

nengō[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ōtoku (1084-1087)
  • Kanji (1087-1094)
  • Kaho (1094-1096)
  • Eichō (1096-1097)
  • Jōtoku (1097-1099)
  • Kowa (1099-1104)
  • Choji (1104-1106)
  • Kajō (1106-1108)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Horikawa có 5 hoàng hậu là công chúa Tokushi, ba người họ Fujiwara (không rõ tên) và một người họ Minamoto (không rõ tên). Họ sinh ra 6 người con:

  • một công chúa (không rõ tên): 1099-1162
  • Hoàng tử Munehito (宗仁親王) (Thiên hoàng Toba): 1103-1156
  • Kangyō (寛 暁) - Thượng Tế: 1103-1159
  • hoàng tử (không rõ tên), đứng đầu phái Phật giáo Tendai: 1105-1162
  • công chúa Kishi
  • công chúa (không rõ tên)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 堀河天皇 (73)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). p. 78.
  3. ^ Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, pp. 317-320; Varley, H. Paul. (1980). Jinno Shōtōki. P. 202; Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, p.171
  4. ^ Varley, p. 202
  5. ^ Titsingh, p. 172; Brown, p. 317.
  6. ^ Titsingh, p. 172; Brown, p. 317; Varley, p. 44
  7. ^ Brown, p. 319; Titsingh, p. 178.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]