Thiên hoàng Go-Sanjō

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Go-Sanjō
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Gosanjō.jpg
Thiên hoàng thứ 71 của Nhật Bản
Tại vị 1068–1073
Tiền nhiệm Thiên hoàng Go-Reizei
Kế nhiệm Thiên hoàng Shirakawa
Thông tin chung
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Thiên hoàng Go-Suzaku
Sinh 3 tháng 9, 1034(1034-09-03)
Mất 15 tháng 6, 1073 (38 tuổi)
An táng Yensō-ji no misasagi (Kyoto)

Thiên hoàng Go-Sanjō (後三条天皇 Go-Sanjō-Tenno?, 03 Tháng 9 1034 - 15 tháng 6, 1073) là Thiên hoàng thứ 71[1] của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống[2]

Triều đại Go-Sanjō kéo dài từ năm 1068 đến năm 1073[3].

Tường thuật truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi Thiên hoàng, ông có tên thật là là Takahito -shinnō[4], còn một tên khác là Takashi Hitoshi. Ông là con trai thứ hai của Thiên hoàng Go-Suzaku, em trai của Thiên hoàng Go-Reizei. Mẹ ông là công nương Sadako, con gái của Thiên hoàng Sanjō[5].

Ngay từ nhỏ, hoàng tử Takahito được sự nuôi dạy của họ Fujiwara để sau này Fujiwara dễ điều khiển vị hoàng tử này sau khi ông kế vị ngôi Thiên hoàng. Chán cảnh các quý tộc cấp thấp bị dòng họ quý tộc Fujiwara áp chế và các Thiên hoàng trước đó chỉ là bù nhìn của dòng họ quý tộc này, thêm nữa các hoàng hậu (người của Fujiwara) của Thiên hoàng tiền nhiệm Go-Reizei đều không có con nối dõi, nên thân vương Takahito càng có chí quyết tâm thoát khỏi sự lũng đoạn của dòng họ quý tộc này. Thân vương tự học, nuôi chí tự lập để dễ bề cai trị quốc gia về sau này. Thêm nữa, mẹ của ông mặc dù là thuộc họ Fujiwara - nhưng trên thực tế thân vương không bị sự ràng buộc ngoại thích với họ Fujiwara.

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 5 năm 1068, thân vương Takahito lên ngôi Thiên hoàng sau khi anh trai là Thiên hoàng Go-Reizei vừa băng hà, hiệu là Thiên hoàng Go-Sanjō[6]. Ông đổi niên hiệu của anh thành niên hiệu Jiryaku nguyên niên (1068 - 1069).

Ngay sau khi lên ngôi, Thiên hoàng Go-Sanjō tiến hành một loạt các cải cách quan trọng[7]:

  • Tập trung quyền lực vào tay Thiên hoàng: Ông bãi bỏ chức vụ Nhiếp chính của Fujiwara Norimichi và đích thân chấp chính. Ông trọng dụng các trí thức như Oe no Masafusa, Minamoto Morofusa và nhất là dòng họ Minamoto - dòng họ chính của Thiên hoàng Nhật Bản, ban cho họ chức vụ cao. Đặc biệt, Minamoto Morofusa được cử làm Hữu đại thần.
  • Chỉnh lý ruộng đất (trang viên, Shoen): ông ban hành lệnh Enkyū (1069). Lệnh này quy định, các trang viên được lập sau năm 1045 phải có giấy tờ hợp lệ. Nếu không có giấy tờ hợp lệ, các trang viên này được sung vào công lãnh do Quốc ty quản lý. Để thi hành lệnh này, Thiên hoàng thiết lập cơ quan gọi là Kirokusho (Ký lục sở). Đứng đầu cơ quan này là hai đại quan Minamo to no Tsunenaga và Oe no Masafusa (có khuynh hướng chống họ Fujiwara). Cách thức kiểm soát của hai ông là bắt các trang viên phải trình giấy tờ chứng minh đất cát và so sánh giấy tờ ấy với báo cáo của các quan kokushi xem có trùng hợp hay không. Các ông bất kể chúng là trang viên thuộc gia đình dòng họ quý tộc lớn hay không, hễ là trang viên chỉ vừa mới ra đời và thiếu giấy tờ, không đúng quy luật là bắt đình chỉ ngay. Phương pháp ấy đã thu lượm được nhiều thành quả.
  • Thống nhất đo lường trong nông nghiệp: Với sắc lệnh Enkyuu no senjimasu (tuyên cáo) ra đời năm 1072, Thiên hoàng định ra cách đo lường một thăng (masu) là bao nhiêu[8], ra lệnh kiểm tra toàn bộ đất canh tác để xem xét đo lường trong cả nước
  • Luật pháp: Thiên hoàng cho sửa sang lại các đạo luật trước đó và thống nhất thành đạo luật (ritsuryo) mang niên hiệu của mình (năm 1070). Hai năm sau (1072), Thiên hoàng bắt đầu quản lý ngân khố Hoàng gia.

Ngày 18 tháng 1 năm 1072, Thiên hoàng Go-Sanjō thoái vị, nhường ngôi cho con thứ là thân vương Sadahito. Thân vương sẽ lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Shirakawa[9].

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kampaku, Fujiwara Norimichi (997-1075).
  • Daijō daijin, Fujiwara Norimichi.
  • Tả đại thần, Fujiwara Morozone, 1042-1101.
  • hữu đại thần
  • nội đại thần
  • đại nạp ngôn

nengō[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jiryaku (1065-1069)
  • Enkyū (1069-1074)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên hoàng có 3 hoàng hậu, sinh ra 7 người con:

  • công chúa Toshiko (聡 子 内 親王)
  • Hoàng tử Sadahito (貞仁親王) (Thiên hoàng Shirakawa)
  • công chúa Toshiko (俊子内親王) - Higuchi saigū (樋口斎宮) (Saigū = Imperial chúa phục vụ tại Đền Đại Ise)
  • công chúa Kako (内 佳 子 親王) - Tomi-no-Kōji Saiin 富 小路 斎 院
  • công chúa Tokushi (篤子内親王) - Hoàng hậu (chūgū của Thiên hoàng Horikawa)
  • Hoàng tử Sanehito (実 仁 親王) - Shirakawa của-sẽ là người thừa kế
  • Hoàng tử Sukehito (輔仁 親王)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 陽成天皇 (71)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard . (1959),  p. 76.
  3. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp. 166-168; Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, pp. 314-315; Varley, H. Paul. (1980). Jinno Shōtōki. P. 198-199.
  4. ^ Titsingh, p. 166; Brown, p. 314; Varley, p. 198.
  5. ^ Brown, p. 314
  6. ^ Titsingh, p. 166; Brown, p. 313; Varley, p. 44;
  7. ^ Các cải cách của Thiên hoàng Go-Sanjō được trích dẫn từ tư liệu: Nguyễn Quốc Hùng (2012), Lịch sử Nhật Bản, Nhà xuất bản Thế giới, tr. 103 - 104 và Nguyễn Nam Trân, Giáo trình lịch sử Nhật Bản (bản điện tử)
  8. ^ Đơn vị đo lường masu của Nhật Bản được tính theo khối lượng gạo được bỏ vào trong 1 hộp gỗ có hình lập phương. Một masu = 1,8 lít. Các Masu tồn tại với nhiều kích cỡ, từ ittomasu (= 18 lít) đến ichigōmasu , c. 0.18 L
  9. ^ Titsingh, p. 169; Brown, p. 314; Varley, p. 44.