Thiên hoàng Kameyama

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kameyama
Thiên hoàng Nhật Bản
Emperor Kameyama.jpg
Kameyama
Thiên hoàng thứ 90 của Nhật Bản
Tại vị1259–1274
Tiền nhiệmGo-Fukakusa
Kế nhiệmGo-Uda
Thông tin chung
Phối ngẫuFujiwara no Saneko, Fujiwara no Kishi
Sinh(1249-07-09)9 tháng 7, 1249
Mất4 tháng 10, 1305(1305-10-04) (56 tuổi)
Tôn giáoShinto hay Jodo Shinshu

Kameyama (亀山 Kameyama-tennō ?) (09 tháng 7 năm 1249 - ngày 04 Tháng 10 1305) là Thiên hoàng thứ 90 của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống. Triều đại của ông kéo dài từ năm 1259 đến năm 1274[1].

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi lên ngôi, ông có tên cá nhân (imina) đã Tsunehito -shinnō (恒仁親王).[2]

Ông là con trai thứ 7 của Thiên hoàng Go-Saga. Ông được cha phong làm Thái tử lúc 9 tuổi.

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12/1259, Thiên hoàng Go-Fukakusa thoái vị và nhường ngôi cho em trai là thân vương Tsunehito mới 10 tuổi. Thân vương lên ngôi[3], lấy hiệu là Thiên hoàng Kameyama. Ông cải niên hiệu của anh thành niên hiệu Bun'ō nguyên niên (1260-1261).

Trong thời gian ở ngôi vị, Kameyama cho lập nhiều chùa - nhất là chùa Nanzenji (Nam Thiền) để chống ma quỷ[4]. Mặc dù không có thực quyền nhiều, nhưng vào năm 1263 Kameyama đã triệu hồi Hoàng tử Munetaka (con trai cả của Thiên hoàng Go-Saga) và thay thế bằng Hoàng tử Koreyasu (2 tuổi).

Năm 1265, vua Mông Cổ Nguyên Thế Tổ sang đánh Nhật Bản, buộc triều đình phải sang chầu vua Mông Cổ. Nhà vua và hoàng tộc nhanh chóng thỏa hiệp[5] với Mông Cổ, nhưng shikken nhà Kamakura là Hōjō Tokimune (1268 - 1284) đã chống lại và quyết định chủ chiến. Shikken quyết định không nói chuyện với đoàn sứ giả Mông Cổ, đuổi chúng về nước. Shikken nhà Kamakura ra lệnh cho các lãnh chúa vùng ven biển Tây Nam đảo Honshu, đảo Kyushu tăng cường các tuyến phòng thủ, huy động võ sĩ đông đảo và một lực lượng hải quân tinh nhuệ chuẩn bị cho cuộc chiến[6]

Tháng 2/1274, Thiên hoàng Kameyama thoái vị và nhường ngôi cho con trai. Con trai thứ hai lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Go-Uda.

Kugyō[sửa | sửa mã nguồn]

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bun'ō (1260–1261)
  • Kōchō (1261–1264)
  • Bun'ei (1264–1275)

Thoái vị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi rời ngôi, Kameyama trở thành Thượng hoàng và sống trong chùa.

Năm 1281 khi quân Nguyên xâm lược Nhật Bản lần hai, Kameyama đến cầu khấn Nữ thần Mặt Trời tại Đền Đại Ise để mong Nữ thần phù hộ cho quân dân Nhật Bản chống giặc xâm lược. Bị shikken nghi ngờ, Kameyama buộc con trai thoái vị và nhường ngôi cho người anh em của mình, sau sẽ lên ngôi với hiệu là Thiên hoàng Fushimi, con trai của cố Thiên hoàng Go-Fukakusa. Sau đó, Hoàng tử Hisa'aki cũng là con trai của cố Thiên hoàng Go-Fukakusa, được cử làm Shogun thứ 8 của Kamakura mà không phải là con trai ông (tức Kameyama). Thất vọng, ông xuống tóc đi tu và qua đời tại chùa.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng hậu (Kogo) Tōin (Fujiwara) Fujiwara no Saneko (洞院(藤原)佶子). Bà này sinh ra 2 trai 1 gái, trong đó có hoàng tử Yohito sẽ lên ngôi với hiệu là Thiên hoàng Go-Uda
  • Hoàng hậu (Chūgū - một cấp bậc thấp hơn Kogo) Saionji (Fujiwara) Yoshiko (西園寺(藤原)嬉子)
  • Quý phu nhân: Konoe (Fujiwara) ?? (近衛 (藤原) 位子). Bà sinh 2 hoàng tử (thứ 8 và 10, đều không rõ tên)
  • Công nương họ Fujiwara. Bà này sinh ra hoàng tử thứ 4,6 và 7; con gái thứ 5; có hai người biết được tên là Hoàng tử Ryosuke (thứ 4) và hoàng tử Shōun (thứ 6)
  • Bà phi họ Fujiwara sinh 1 công chúa
  • Bà phi (không rõ tên), sinh ra 3 hoàng tử thứ 9, 10 và 12. Tất cả đều theo Phật giáo

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp. 255-261; Varley, H. Paul. (1980). Jinno Shōtōki pp.. 232-233.
  2. ^ Titsingh, p. 255; Varley, p. 232.
  3. ^ Titsingh, p. 265; Varley, p. 44
  4. ^ “Ký sự Nhật Bản P9: Chùa Nam Thiền”. Truy cập 26 tháng 11 năm 2016. 
  5. ^ Smith, Bradley Japan: A History in Art 1979, p.107
  6. ^ Nguyễn Quốc Hùng, Lịch sử Nhật bản, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2012, tr. 128