Thiên hoàng Go-Kashiwabara

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thiên hoàng Go-Kashiwabara
Thiên hoàng Nhật Bản
Thiên hoàng thứ 104 của Nhật Bản
Tại vị 16 tháng 11, 1500 – 19 tháng 5, 1526
Tiền nhiệm Thiên hoàng Go-Tsuchimikado
Kế nhiệm Thiên hoàng Go-Nara
Thông tin chung
Sinh 19 tháng 11, 1462(1462-11-19)
Mất 19 tháng 5, 1526 (63 tuổi)
An táng Fukakusa no kita no Misasagi (Kyōto)

Go-Kashiwabara (後柏原天皇Go-Kashiwabara-tennō) (ngày 19 tháng 11 năm 1464 - Tháng 19, 1526) là Thiên hoàng thứ 104 của Nhật Bản theo danh sách kế thừa truyền thống. Ông trị vì từ năm 1500 đến năm 1526, triều đại của ông được xem là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Nhật Bản thời Mạc phủ họ Ashikaga[1].

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tên cá nhân của ông là Katsuhito. Ông là con trai cả của Thiên hoàng Go-Tsuchimikado có với hoàng hậu là Niwata (Fujiwara) Asako (庭 田 (源) 朝 子), con gái của Niwata Nagakata. Ông có bảy người con cả trai lẫn gái, con thứ hai của ông là Hoàng tử Tomohino (知仁親王) sau sẽ lên ngôi với hiệu là Thiên hoàng Go-Nara.

Lên ngôi Thiên hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16/11/1500, sau khi làm lễ tang cho vua cha là Thiên hoàng Go-Tsuchimikado vừa mất cách đó ít tuần, thân vương Katsuhito lên ngôi và lấy hiệu là Go-Kashiwabara. Ông lấy niên hiệu của cha, lập thành niên hiệu Meiō nguyên niên (1500–1501).

Năm 1501, Shogun Ashikaga Yoshimura bị lưu đày một thời gian khá lâu (1493 - 1501) nay đã rời nơi lưu đày, cư trú tại tỉnh Suo. Tại nơi cư trú, ông đổi tên thành Yoshitane và triệu tập những người ủng hộ ông, trong đó có Ōuchi Yoshioki và lấy lại được chức Shogun năm 1508.

Năm 1503 - 1504, đói và hạn hán lớn ở Nhật Bản[2]

Năm 1508, Yoshitane phát động cuộc nổi dậy đánh đuổi và lật đổ Hosokawa Masamoto ở Miyako, kẻ đang nắm quyền Shogun Nhật Bản.

Năm 1510, cuộc bạo loạn Sanbo-No-Ran do những kiều dân Nhật phát động chống chính quyền Triều Tiên. Do hậu quả từ chính sách tăng thuế của nhà vua Triều Tiên Yeonsan-gun (1494 - 1506) gây ra, nhiều kiều bào Nhật Bản sống ở Triều Tiên tức giận và chống lại chính quyền sở tại. Họ xúi giục thống đốc Tsushima gây rối Triều Tiên: tháng 4/1510, hai người Nhật là Obarishi và Yasko đem gần 5.000 người tấn công vào thành phố Busan, nam Triều Tiên, Naei, Yeom. Quốc vương Jungjong cử tướng đem quân đàn áp và sau sự kiện con trai của thống đốc Tsushima bị giết chết, cuộc bạo loạn đã được dập tắt[3].

Cuộc bạo loạn làm 270 người Triều Tiên thiệt mạng hoặc bị thương, 796 ngôi nhà bị phá hủy, 295 người Nhật Bản thiệt mạng và 5 tàu Nhật Bản bị chìm. Chính quyền Triều Tiên cử đoàn đến cứu trợ, song đã cắt đứt quan hệ thương mại Triều - Nhật. Để khắc phục hậu quả, Thiên hoàng Go-Kashiwabara công khai trừng phạt thống đốc Tsushima vì đã phát động cuộc bạo loạn, cho hồi hương tù binh Triều Tiên về nước theo Nghị định Imsin năm 1512. Tuy vậy, hoạt động thương mại Triều - Nhật vẫn ở mức thấp nhất kể từ sau khi bạo loạn kết thúc[4].

Tháng 5/1526, Thiên hoàng Go-Kashiwabara qua đời khi đã 63 tuổi. Ông không đặt chức quan nào khi đang trị vì. Người con thứ sẽ lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Go-Nara

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Meiō (1492–1501)
  • Bunki (1501–1504)
  • Eishō (1504–1521)
  • Daiei (1521–1528)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp. 364–372.
  2. ^ Titsingh, p. 365
  3. ^ ":::::조선왕조실록의 홈페이지에 오신 것을 환영합니다.:::::"
  4. ^ 삼포왜란: 지식백과, (in Korean).Terms.naver.com