Yên Sơn Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yên Sơn Quân
Vua Triều Tiên
Vua nhà Triều Tiên
Tại vị 1494 - 1506
Đăng quang 1494
Tiền nhiệm Triều Tiên Thành Tông
Kế nhiệm Triều Tiên Trung Tông
Thông tin chung
Thân phụ Triều Tiên Thành Tông
Thân mẫu Phế phi Doãn, hay Vương hậu Jeheon
Sinh 1476
Hán Thành
Mất 1506 (30 tuổi)
Yên Sơn Quân
Hangul 연산군
Hanja 燕山君
Romaja quốc ngữ Yeonsan-gun
McCune–Reischauer Yŏnsan'gun
Tên khai sinh
Hangul 이융
Hanja 李㦕
Romaja quốc ngữ I Yung
McCune–Reischauer I Yung

Yên Sơn Quân (Tiếng Triều Tiên연산군燕山君Yeon san gun; 1476 – 1506, trị vì 1494-1506) là vị vua thứ mười của nhà Triều Tiên, húy là Lý Long (Tiếng Triều Tiên이융李㦕Yi Yung). Ông là con trai trưởng của vua Triều Tiên Thành Tông và Phế Vương phi Doãn thị (hay còn gọi là Tề Hiến Vương hậu Doãn thị).

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có hai cuộc thanh trừng nho sĩ dưới triều đại của Yên Sơn Quân, thiết lập lên một chu trình báo thù kéo dài trong năm mươi năm. Ông cũng ra lệnh bắt hàng nghìn phụ nữ từ các tỉnh để phục vụ giải trí và đóng cửa Thành Quân Quán (성균관, 成均館, Seonggyungwan) - trường đại học quốc gia. Vì ông bị truất phế nên đã không được đặt miếu hiệu.

Phế phi Doãn thị, hay Tề Hiến Vương hậu từng là một Hậu cung, Tòng nhị phẩm Thục nghi cho đến khi Trung điện, chính thất của nhà vua là Cung Huệ Vương hậu (공혜, 恭惠, Gonghye) qua đời mà không có con trai. Thành Tông buộc phải lập người vợ thứ hai. Năm 1476, Vương phi Doãn thị được chọn nhờ sắc đẹp và sau đó vài tháng đã sinh con trai đầu - Vương tử Lý Long, sau này là Yên Sơn Quân. Vương phi mới tỏ ra ghen ghét với các Hậu cung khác của Thành Tông nên đã đầu độc một người vào năm 1477. Năm 1479, Vương phi Doãn thị vô tình gây ra vết sẹo trên mặt Thành Tông. Mặc dù nhà vua cố gắng che giấu vết thương nhưng Nhân Túy Vương đại phi vẫn phát hiện được và ra lệnh lưu đày Vương phi Doãn thị. Sau nhiều nỗ lực để phục hồi lại địa vị cho Phế phi Doãn thị bất thành, các đại thần cùng chúa thượng và vương thất quyết định ban độc dược xử tử bà.

Yên Sơn Quân lên ngôi vua vào năm 1494 mà không biết bất cứ một chuyện gì về cái chết của mẹ mình. Nhưng một số đại thần bị thất sủng như Im Sa Hong và Yoo Ja Gwang đã cho ông biết sự thật. Yên Sơn Quân tức giận và bắt giữ nhiều đại thần có liên quan. tất cả đều bị sát hại sau đó; sự kiện này xảy ra vào năm 1498 và được gọi là Mậu Ngọ sĩ họa hay cuộc thanh trừng lần thứ nhất (무오사화, 戊午士禍). Ngày 20 tháng 3 năm 1504, trong cơn cuồng loạn ông ra lệnh đánh đập, hành hạ cho đến chết hai vị Quý nhân Trịnh thị và Quý nhân Nghiêm thị đều là hậu cung nội mệnh phụ của tiên vương vì cho rằng họ có âm mưu hãm hại khiến mẫu thân của ông bị truất phế vương vị, đồng thời buông lời đại bất kính miệt thị Nhân Tuý Đại vương đại phi (tức nội tổ mẫu của ông) cùng Từ Thuận Đại Phi (tức Trinh Hiển vương hậu, đích kế mẫu của ông) vì cho rằng hai vị trên có liên quan đến việc phế truất và ban chết mẫu thân của ông, khiến Đại vương đại phi Nhân Tuý vì uất ức mà sinh bệnh qua đời không lâu sau đó. Cũng trong năm đó ông xử tử rất nhiều học giả Nho giáo trước đây đã tấu lên vua Thành Tông để phế truất mẹ mình, và đào mộ của Han Myeong Hoi để chặt đầu tử thi; được lịch sử gọi là Giáp Tý sĩ họa hay cuộc thanh trừng lần thứ hai (갑자사화, 甲子士禍). Sau vụ thảm sát này, nhiều dân thường chế nhạo và xúc phạm nhà vua với các biểu ngữ được viết bằng Hangul. Điều này càng làm cho Yên Sơn Quân tức giận hơn. Ông cấm sử dụng Hangul, đóng cửa Thành Quân Quán. Ông còn ra lệnh người dân trên toàn bán đảo Triều Tiên phải tiến cống các cô gái trẻ và ngựa để phục vụ cho nhu cầu giải trí của mình. Nhiều người sợ cách cai trị chuyên chế của Yên Sơn Quân, tương phản hoàn toàn với sự tự do của thời đại vua cha Thành Tông.

Năm 1506, một nhóm các quan đại thần, dẫn đầu là Park Won Jong, Seong Hui An, Yoo Soon Jeong và Hong Gyeong Ju, âm mưu chống lại Yên Sơn Quân. Ngày 2 tháng 9 năm 1506, họ tiến hành cuộc binh biến phế truất ông và lập Tấn Thành Đại quân, người em cùng cha khác mẹ của Yên Sơn Quân lên ngôi vua. Ông bị giáng xuống làm Vương tử và bị lưu đày. Ông qua đời cùng năm đó.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Triều Tiên Thành Tông
  • Mẹ: Tề Hiến Vương hậu họ Doãn [제헌왕후 윤씨]
  • Vợ:
    • Phế Vương phi họ Thận [폐왕비 신씨, 1472-1537]; con gái Ký Xương Phủ viện quân Thận Thừa Thiện [신승선] và Trung Mâu Huyện chúa họ Lý [중모현주 이씨], cô ruột Đoan Kính Vương hậu; Trung Mâu Huyện chúa là con gái Lâm Doanh Đại quân, con trai của Triều Tiên Thế Tông. Năm 1488, bà thành hôn với Yên Sơn Quân khi ông còn là Vương thế tử, được sách phong Vương thế tử tần [왕세자빈]. Năm 1494, Yên Sơn Quân tức vị, bà được sách lập làm Vương phi [왕비]; tới năm 1505 được phong tôn hiệu Tề Nhân Nguyên Đức Vương phi [제인원덕왕비]. Năm 1506, Yên Sơn Quân bị phế truất, bà bị giáng làm Ký Xương Quận phu nhân [거창군부인].
    • Thục nghi họ Lý [숙의 이씨].
    • Thục nghi họ Doãn [숙의 윤씨].
    • Thục nghi họ Quách [숙의 곽씨].
    • Thục nghi họ Quyền [숙의 권씨].
    • Thục nghi họ Mẫn [숙의 민씨].
    • Thục dung Trương Lục Thủy [숙용 장녹수, ?-1506]; xuất thân là ca kỹ; sau được Yên Sơn Quân sủng ái, sách phong Thục viên [숙원], sau thăng Thục dung [숙용]. Năm 1506, Yên Sơn Quân bị phế truất, bà bị phế truất và xử tử.
    • Thục dung Điền Điền Phi [숙용 전전비, ?-1506]; năm 1506, Yên Sơn Quân bị phế truất, bà bị phế truất và xử tử.
    • Thục dung họ Triệu [숙용 조씨].
    • Thục viên họ Thôi [숙원 최씨].
    • Thục viên Kim Quý Phi [숙원 김귀비, ?-1506]; năm 1506, Yên Sơn Quân bị phế truất, bà bị phế truất và xử tử.
    • Nội nhân Trịnh Kim [내인 정금].
    • Thục hoa họ Kim [숙화 김씨, ?-1506]; năm 1506, Yên Sơn Quân bị phế truất, bà bị phế truất và xử tử.
    • Lệ viên họ An [여원 안씨]; nguyên là Cung nhân [궁인], sau khi mất truy tặng Lệ viên [여원].
  • Con trai:
    • Phế Thế tử [폐세자 이황]; trưởng tử của Phế Vương phi họ Thận.
    • Xương Ninh Đại quân Lý Thành [창녕대군 이성]; thứ tử của Phế Vương phi họ Thận.
    • Dương Bình Quân Lý Khang Thọ [양평군 이강수], trưởng tử của Thục nghi họ Lý.
    • Vương tử Lý Đôn Thọ [왕자 이돈수], thứ tử của Thục nghi họ Lý.
  • Con gái:
    • Huy Thận Công chúa Lý Thọ Ức [휘신공주 이수억]; trưởng nữ của Phế Vương phi họ Thận.
    • Ông chúa Lý Hàm Kim [이함금] với Kim Nội nhân.
    • Ông chúa Lý Ninh Thọ [이영수] với Thục dung Trương Lục Thủy.

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 헌천홍도경문위무대왕 / 憲天弘道經文緯武大王 / Hiến Thiên Hoằng Đạo Kinh Văn Vĩ Võ Đại Vương

Miêu tả của các bộ phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong loạt phim truyền hình "nàng Jang Nok-su", ông đã được miêu tả cùng với nàng Jang Nok-su, quý phi của mình. Jang Nok-su được biết đến như một trong những phụ nữ khét tiếng nhất trong lịch sử Triều Tiên.
  • Bộ phim truyền hình "người phụ nữ của thế giới" (nhân vật chính là bà vợ ba của người em và cô em dâu thứ), cuộc binh biến lật đổ Yên Sơn Quân được miêu tả ngay trong những cảnh quay đầu tiên ở tập một. Trong phim, ông là một người thất thường và điên loạn, hay sợ hãi và thỉnh thoảng còn bị ngã xuống sàn.
  • Ở phim Jang Geum, ông được mô tả là vị bạo chúa Hàn Quốc từng có. Nội dung của tập một đã cho thấy các đại thần của vua Thành Tông đang đầu độc phế hậu Doãn thị trong lúc ông vẫn còn là vương tử. Sau khi biết sự thật về cái chết của mẹ mình, ông đã ra lệnh cho điều tra dẫn đến hai cuộc thanh trừng. Ông bị phế truất khi nổi loạn xảy ra. Tấn Thành đại quân, người em trai của ông mà sau này là vua Trung Tông đã lên làm vua thay ông nhờ cuộc biến loạn.
  • Ông là nhân vật chính trong phim nối tiếng năm 2005 "nhà vua và chàng hề", đã cho ta thấy một cái nhìn mới về Yên Sơn Quân (là một ông vua đa cảm, nhu cầu dục vọng bị điều khiển bởi một anh hề đồng tính) và những câu chuyện của phế hậu Doãn thị (người đã được miêu tả một cách khác nhau, cùng với hai người thiếp do vương thái hậu Insu và vua Duệ Tông lập nên.
  • Ông cũng được miêu tả trong những phần cuối của bộ phim truyền hình năm 2008 "Đức vua và tôi".
  • Trong bộ phim "Chốn hậu cung", ở ngay tập đầu của phim cũng quay cảnh Cuộc binh biến lật đổ Yên Sơn Quân, dẫn tới ngôi vị đã được trao cho người em trai cùng cha khác mẹ với ông - vua Jung Jong và cuộc chiến tàn khốc trong chốn hậu cung đã bắt đầu nổ ra
  • Nhân vật Yeon San Gun trong bộ phim "Nhân Túy đại phi" qua diễn xuất của diễn viên Jin Tae Hyun

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]