Triều Tiên Hiếu Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Hiếu Tông
Quốc vương Triều Tiên
Quốc vương nhà Triều Tiên
Tại vị 1649 - 1659
Tiền nhiệm Triều Tiên Nhân Tổ
Kế nhiệm Triều Tiên Hiển Tông
Thông tin chung
Phối ngẫu
Hậu duệ
Vương tộc Vương tộc họ Lý
Thân phụ Triều Tiên Nhân Tổ
Thân mẫu Nhân Liệt vương hậu
Sinh 8 tháng 5, 1619
Mất 4 tháng 5, 1659
Xương Đức cung
An táng Ninh lăng (宁陵), Lăng mộ vương tộc Triều Tiên

Triều Tiên Hiếu Tông (chữ Hán: 朝鮮孝宗; 8 tháng 5, 1619 - 4 tháng 5, 1659), là vị Quốc vương thứ 17 của nhà Triều Tiên. Ông trị vị từ năm 1649 đến năm 1659, tổng cộng 10 năm.

Hiếu Tông đại vương được biết đến với kế hoạch của mình cho Chuyến chinh phạt Mãn Châu của Mãn Thanh và các chiến dịch của ông chống lại Đế quốc Nga bằng cách thỉnh cầu giúp đỡ của nhà Thanh. Kế hoạch bắc phạt của ông không bao giờ đưa vào hoạt động kể từ khi ông qua đời trước khi chiến dịch bắt đầu.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Tông đại vương tên húy là Lý Hạo (李淏), tên tự là Tĩnh Uyên (靜淵), được sinh ra vào ngày 8 tháng 5, năm 1619, vào những năm Quang Hải Quân trị vì. Ông là con trai thứ 2 của Triều Tiên Nhân Tổ Lý Tông, trong khi cha của ông là vẫn còn là một Vương tử. Mẹ ông là Nhân Liệt vương hậu Hàn thị, người ở Thanh Châu.

Năm 1623, phái Tây Nhân (西人) đã phát động một cuộc đảo chính loại bỏ Quang Hải Quân và đưa Nhân Tổ lên ngôi, Hiếu Tông được gọi vào cung cùng với cha mình. Năm 1626, ông được phong làm Phụng Lâm đại quân (鳳林大君). Năm 1631, ông cưới con gái của đại thần Trương Duy (張維) làm chánh thất.

Chính sách ngoại giao cứng rắn của Nhân Tổ đã gây ra cuộc chiến tranh giữa Triều Tiên và Mãn Châu. Vào năm 1636, người Mãn Châu đã đánh bại Triều Tiên, Nhân Tổ đại vương bị buộc phải cam kết lòng trung thành với Hoàng đế nhà ThanhHoàng Thái Cực tại Samjeondo, Nhân Tổ bị buộc cúi xuống dưới chân của Hoàng Thái Cực những tám lần. Khi đó, Nhân Tổ và Hoàng Thái Cực đã ký một hiệp ước, trong đó bao gồm Mãn Châu sẽ đưa Thế tử Lý Vương và Phụng Lâm đại quân đến Thịnh Kinh giam cầm.

Trong thời gian lưu vong ở Trung Quốc, Hiếu Tông chủ yếu là cố gắng bảo vệ anh trai từ mối đe dọa của triều đại nhà Thanh. Hoàng Thái Cực và lực lượng Mãn Châu của ông vẫn còn chiến tranh chống lại nhà Minh Trung Quốc và cũng có thể tham gia vào trận chiến với quân Mông Cổ. Nhiều lần, vị Hoàng Thái Cực đã yêu cầu Thế tử Lý Vương ra chiến trường và giúp đỡ quân Mãn Châu. Tuy nhiên, Hiếu Tông đã lo lắng về anh trai của ông vì Thế tử là người thừa kế chính thức lên ngôi của Triều Tiên và không có kinh nghiệm quân sự. Ông tiếp tục chiến đấu chống lại Trung Quốc ở vị trí của anh trai, và ông cũng theo Thế tử Lý Vương trong trận chiến chống lại người Duy Ngô Nhĩ và người Hồi giáo trên mặt trận miền tây.

Cùng với anh trai của ông, Hiếu Tông đã liên lạc với người châu Âu trong khi ông ở Trung Quốc, và cũng có thể ông đã biết được rằng Triều Tiên cần phải phát triển công nghệ mới và hệ thống chính trị và quân sự mạnh mẽ hơn để tự bảo vệ mình từ các cường quốc nước ngoài. Ông cũng phát triển một mối ác cảm chống lại nhà Thanh, tách ra từ đất nước của mình và gia đình của mình. Chính trong giai đoạn này, ông quyết định thực hiện một kế hoạch lớn cho các chiến dịch bắc phạt chống lại Mãn Châu, một hành động trả thù nhà Thanh cho cuộc chiến năm 1636.

Năm 1644, Thế tử và Phụng Lâm đại quân được thả trở về Triều Tiên. Năm 1645, Thế tử Lý Vương đột ngột qua đời, thụy gọi là Chiêu Hiển Thế tử (昭顯世子). Phụng Lâm đại quân được phong làm Vương Thế tử kế vị, con trai của ông là Lý Túc được phong làm Vương thế tôn.

Năm 1649, Nhân Tổ đại vương thăng hà, Thế tử Lý Hạo kế vị. Ông chủ trương miệt thị nhà Thanh, không dùng niên hiệu của nhà Thanh mà vẫn dùng niên hiệu của nhà MinhSùng Trinh (崇禎).

Năm 1659, ngày 4 tháng 5, quốc vương thăng hà tại Đạo Tạo điệnXương Đức cung. Miếu hiệuHiếu Tông (孝宗), thụy hiệuTuyên Văn Chương Vũ Thần Thánh Hiển Nhân Minh Nghĩa Chính Đức đại vương (宣文章武神圣显仁明义正德大王).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nhân Tuyên vương hậu Trương thị (仁宣王后 張氏, Inseon Wanghu Jangssi, 1618 - 1674), người ở Đức Thủy, là con gái của Tân Phong phủ viện quân Trương Duy (新豊府院君張維) và Vĩnh Gia phủ phu nhân Kim thị ở An Đông (永嘉府夫人安東金氏).
  2. An tần Lý thị (安嬪李氏, 1622 - 1693), người ở Khánh Châu, con gái của Công Tào tham nghị Lý Ứng Hiến (李應憲). Túc Tông đại vương thời kỳ, bà được thăng vị Chiêu nghi, Quý nhân rồi tấn tôn "An tần" (安嬪). Sinh hạ con gái duy nhất là Thục Ninh ông chúa.
  3. Thục nghi Kim thị (淑儀金氏).
  4. Thục viên Trịnh thị (淑媛鄭氏).
  • Vương tử:
  1. Triều Tiên Hiển Tông Lý Túc [李棩], mẹ là Nhân Tuyên vương hậu.
  2. 2 đại quân, con trai của Nhân Tuyên vương hậu. Mất sớm.
  • Vương nữ:
  1. Thục Tín công chúa (淑愼公主, 1635 - 1637), mẹ là Nhân Tuyên vương hậu.
  2. Thục An công chúa (淑安公主, 1636 - 1697), mẹ là Nhân Tuyên vương hậu. Hạ giá lấy Ích Bình úy Hồng Đắc Cơ.
  3. Thục Minh công chúa (淑明公主, 1640 - 1699), mẹ là Nhân Tuyên vương hậu. Hạ giá lấy Thanh Bình úy Thẩm Ích Hiển.
  4. Thục Huy công chúa (淑徽公主, 1642 - 1696), mẹ là Nhân Tuyên vương hậu. Hạ giá lấy Dần Bình úy Trịnh Tề Hiền.
  5. Thục Tĩnh công chúa (淑靜公主, 1645 - 1645), mẹ là Nhân Tuyên vương hậu. Hạ giá lấy Đông Bình úy Trịnh Tải Lôn.
  6. Thục Kính công chúa (淑敬公主, 1648 - 1671), mẹ là Nhân Tuyên vương hậu. Hạ giá lấy Hưng Bình úy Nguyên Mộng Lân.
  7. Nghĩa Thuận công chúa (義順公主, 1622 - 1693), nghĩa nữ của Hiếu Tông đại vương.
  8. Thục Ninh ông chúa (淑寧翁主, 1649 - 1668), con gái duy nhất của Lý An tần. Hạ giá lấy Cẩm Bình úy Phác Bật Thành.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]