Triều Tiên Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Nhân Tông
Vua Triều Tiên
Quốc vương Triều Tiên
Tại vị 1544 - 1545
Tiền nhiệm Triều Tiên Trung Tông
Kế nhiệm Triều Tiên Minh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Nhân Thánh vương hậu
Thân phụ Triều Tiên Trung Tông
Thân mẫu Chương Kính vương hậu
Sinh 25 tháng 2, 1515(1515-02-25)
Hán Thành
Mất 1 tháng 7, 1545 (30 tuổi)
Minh Chính điện (明政殿) của Xương Khánh cung
An táng Hiếu lăng (孝陵)

Triều Tiên Nhân Tông (chữ Hán: 朝鮮仁宗; Hangul: 조선 인종; 25 tháng 2, 15151 tháng 7, 1545) là vị vua thứ 12 của nhà Triều Tiên. Ông trị vì từ năm 1544 đến năm 1545, là một trong những vị Quốc vương trị vì ngắn nhất trong lịch sử Triều Tiên. Trong suốt thời kì trị vì, ông không tự thân làm gì đáng kể vì người mẹ kế là Văn Định Vương hậu đã nắm quyền nhiếp chính. Việc làm đáng kể của ông là điều tra và minh oan cho Triệu Quang Tổ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên Nhân Tông tên thật là Lý Hổ (李峼; 이호), ấu danh Ức Mệnh (億命), sinh ngày 25 tháng 2 (tức ngày 10 tháng 3 dương lịch), là con trai thứ 4 của Triều Tiên Trung Tông Lý Dịch với người vợ thứ hai Chương Kính vương hậu Doãn thị, em gái của Doãn Nhâm (윤임, 尹任). Ngay sau khi ông được sinh ra vài ngày, mẹ ông đã mất do bệnh hậu sản. Do là con vợ cả, ông được gọi là Nguyên tử và là người chính thống thừa kế ngai vàng.

Năm ông lên 2 tuổi, Văn Định vương hậu nhập cung đích để nuôi dưỡng Nguyên tử còn nhỏ tuổi. Dù là con thứ 4 nhưng là người con của một chính thất, ông đã được phong làm Thế tử vào năm 1520, nạp Thế tử tần (sau là Nhân Thánh vương hậu) năm 1524 và thừa kế ngai vàng vào năm 1544, khi ấy ông đã 29 tuổi.

Nhà vua có tham vọng và mong muốn cải tổ triều chính đã hủ hoá dù trong thời thời trị vì của cha mình là Triều Tiên Trung Tông đã cố cải cách nhưng không được. Tuy nhiên, sau khi lên ngôi ông đã nhanh chóng cho điều tra lại vụ án của Triệu Quang Tổ (Jo Gwang Jo) thời vua cha Trung Tông và đã minh oan cho Triệu Quang Tổ.

Triều Tiên Nhân Tông liên tục đau ốm và qua đời năm 1545. Khoảng ngày 1 tháng 7 (tức ngày 7 tháng 8 dương lịch), Nhân Tông qua đời mà không có người kế vị, tại Minh Chính điện (明政殿) của Xương Khánh cung. Cái chết của ông dấy lên nghi vấn là do gia tộc họ Doãn của Văn Định vương hậu và các anh em của bà ta.

Ông được an táng tại Hiếu lăng (孝陵).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Triều Tiên Trung Tông Lý Dịch.
  • Mẹ: Chương Kính vương hậu Doãn thị (章敬王后尹氏, 1491 - 1515), qua đời sau khi sinh Nhân Tông.
  • Vương hậu: Nhân Thánh vương hậu Phác thị (仁聖王后朴氏; 1514 - 1577), người Phan Nam, là con gái của Cẩm Thành phủ viện quân Phác Đông (錦城府院君朴墉) và Văn Thiều phủ phu nhân họ Kim ở Nghĩa Thành (聞韶府夫人義城金氏).
  • Hậu cung:
  1. Thục tần họ Doãn (淑嬪尹氏), người ở Pha Bình, cháu gái của Chương Kính vương hậu. Vốn tư sắc diễm lệ, nhập cung làm thiếp của Nhân Tông lúc còn tại vị Thế tử. Khi lên ngôi Vương, Nhân Tông tấn phong vị Quý nhân rồi thăng lên Thục tần.
  2. Huệ tần họ Trịnh (惠嬪鄭氏), người ở Khánh Châu, sơ phong vị Quý nhân, sau tấn phong thành Huệ tần.
  3. Quý nhân họ Trịnh (貴人 鄭氏), người ở Diên Nhật, sơ phong vị Thục nghi. Dưới thời Minh Tông, được tấn tôn vị Chiêu nghi]], rồi Quý nhân.
  4. Lương đệ họ Doãn (良娣尹氏), thê thiếp của Nhân Tông lúc còn ở Đông cung, mất sớm.

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vinh Tĩnh Hiến Văn Ý Vũ Chương Túc Khâm Hiếu Đại Vương
  • 榮靖獻文懿武章肅欽孝大王
  • Heonmun Yimu Changsuk Geumhyo Daewang

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]