Triều Tiên Thế Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Thế Tông
Quốc vương Triều Tiên
Statue Sejong le Grand.jpg
Quốc vương nhà Triều Tiên
Trị vì 9 tháng 9, 1418 - 30 tháng 3, 1450[1]
Tiền nhiệm Triều Tiên Thái Tông
Kế nhiệm Triều Tiên Văn Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Chiêu Hiến Vương hậu
Hậu duệ
Tên đầy đủ Lý Tạo (李祹)
Niên hiệu Vĩnh Lạc, Hồng Hi, Tuyên Đức, Chính Thống, Cảnh Thái (Nhà Minh)
Thụy hiệu Trang Hiến Anh Văn Duệ Vũ Nhân Thánh Minh Hiếu Đại Vương
莊憲英文睿武仁聖明孝大王
Miếu hiệu Thế Tông (世宗)
Vương tộc Dòng họ Lý
Thân phụ Triều Tiên Thái Tông
Thân mẫu Nguyên Kính Vương hậu
Sinh 7 tháng 5, 1397(1397-05-07)
Hán Thành
Mất 18 tháng 5, 1450 (53 tuổi)
Vương quốc Triều Tiên
An táng Anh Lăng (英陵)
Tôn giáo Nho giáo
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 세종대왕
Hanja 世宗大王
Romaja quốc ngữ Sejong Daewang
McCune–Reischauer Sechong Taewang
Tên khai sinh
Hangul 이도
Hanja 李裪
Romaja quốc ngữ I Do
McCune–Reischauer I To
Tên lúc nhỏ
Hangul 원정
Hanja 元正
Romaja quốc ngữ Won Jeong
McCune–Reischauer Wŏn Chŏng

Triều Tiên Thế Tông (chữ Hán: 朝鮮世宗, Hangul: 조선세종, 7 tháng 5, 139730 tháng 3, 1450), hay còn được dân chúng Hàn Quốc gọi là Thế Tông Đại Vương (世宗大王; 세종대왕), vị Quốc vương thứ 4 của nhà Triều Tiên. Trị vì từ năm 1418 đến năm 1450, tổng cộng 32 năm.

Thế Tông đại vương là cháu nội của Triều Tiên Thái Tổ Lý Thành Quế, người sáng lập nhà Triều Tiên, trị vì trong một thời kì rực rỡ của nền văn hoá Triều Tiên.[2] Theo sách của Joseph Needham, Lu-Gwei Djen…, Thế Tông là một "nhà chính trị vĩ đại và nhà bảo trợ của mọi lĩnh vực học vấn",[3] công lớn của Thế Tông khiến ông được xem là một anh hùng dân tộc Triều Tiên.[4]

Thành tựu lớn nhất của ông là cải cách văn tự cho đất nước, ban hành chữ cái tượng thanh Chosŏn'gŭl (năm 1446) dùng để ký âm tiếng Triều Tiên, bất chấp sự phản đối mạnh từ phía những nho sĩ dùng chữ Hán của Trung Quốc.

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Thế Tông đại vương có tên húyLý Tạo (李裪, 이도), ông là con thứ ba của Triều Tiên Thái Tông Lý Phương Viễn, mẹ là Nguyên Kính vương hậu Mẫn thị, người ở Ly Hưng. Lúc còn làm Vương tử, ông được phong là Trung Ninh Đại quân (忠寧大君). Khi còn trẻ, Lý Tạo học giỏi nhiều môn, nên được vua cha yêu quý hơn hai người anh.

Khi Lý Tạo được 12 tuổi, ông được phong làm Đông cung Thế tử (東宫世子), kế vị ngai vàng của cha mình và kết hôn với người con gái của Thẩm Ôn (沈溫), một đại quý tộc nguyên quán ở Thanh Tùng (靑松).

Việc lên ngôi của Lý Tạo có nhiều điểm khác với sự lên ngôi của phần lớn các vị Quốc vương Triều Tiên khác. Vương tử trưởng là Nhượng Ninh Đại quân Lý Đề (李褆), nhận thấy mình không đủ tài làm Quốc vương, tin Thế Tông đã có mệnh làm Vương. Cùng với Vương tử thứ 2 là Hiếu Ninh Đại quân Lý Bổ (李補), ông ta cho rằng trách nhiệm của họ là đưa Lý Tạo lên ngôi. Vì vậy, họ cố tỏ thái độ cực kỳ vô lễ ở cung đình, và ít lâu sau họ bị trục xuất khỏi Hán Thành. Mưu tính của 2 vương tử này cuối cùng đã đưa Lý Tạo lên ngôi. Vương tử trưởng trở thành một lữ khách đi lang thang và sống ẩn dật trên núi. Người con thứ hai đến một ngôi chùa, nơi ông ta xuống tóc đi tu.

Tháng 8 năm 1418, hai tháng sau khi Thái Tông đại vương thoái vị, Lý Tạo lên ngôi, tức Thế Tông đại vương. Dù vậy, Thái Thượng vương Thái Tông vẫn phần nào nắm quyền lực trong triều đình, đặc biệt là nhiều vấn đề quân sự đến khi ông qua đời năm 1422.

Quân sự thời Thế Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Thế Tông đại vương được đánh giá là một nhà chiến lược tài ba. Tháng 5 năm 1419, dưới sự cố vấn và chỉ đạo của Thái Tông Thái thượng vương, Thế Tông phát động cuộc Kỷ Hợi Đông chinh nhằm để tiễu trừ những cướp biển người Nhật Bản đang hoành hành ở khu vực đảo Tsushima gây ra. Cuộc Đông chinh đã tiêu diệt 243 quân Nhật và bắt làm tù binh 110 người, còn phía Triều Tiên chỉ thiệt mạng 4 binh sĩ. Ít nhất 140 người Trung Quốc bị bắt cóc đã được trả tự do. Tháng chín năm 1419, Daimyō của đảo Tsushima là Sadamori đã đến đầu hàng chính quyền Triều Tiên

Cuối cùng, vào năm 1443, Hòa ước Quý Hợi được ký kết, trong đó Daimyō của đảo Tsushima công nhận và tuân phục quyền lực của vua nước Triều Tiên; và triều đình Triều Tiên cho phép Tsushima được thông thương với nước họ sáu mươi tàu thuyền mỗi năm.[5]

Ở biên giới phía Bắc, vua Thế Tông cho xây dựng bốn công sự và sáu khu đồn trú quân, còn được gọi là tứ quận, lục dinh (四郡六鎭, 사군육진) đế bảo vệ đất nước trước nguy cơ xâm lược của người Trung Quốc và dân du mục người Mãn Châu. Ông cũng chỉnh đốn lại quân đội đế tăng cường an ninh cho đất nước.[6] Thế Tông còn tích cực ủng hộ việc phát triển tiến bộ của kỹ thuật quân sự cho đất nước, trong thời của ông lực lượng pháo binh dùng thuốc súng phát triển nhanh. Các loại pháo cối, tên bắn lửa khác nhau cũng đã được thử nghiệm và sử dụng với thuốc súng.

Năm 1433, vua Thế Tông ra lệnh cho Kim Tông Thụy (金宗瑞, 김종서), một viên tướng có tài mở một cuộc chinh phạt ở khu vực phía Bắc nhằm tiêu diệt thế lực của người Mãn Châu ở đây. Chiến dịch của tướng Kim đã chiếm được một số thành trì và khôi phục lại lãnh thổ cho Triều Tiên, đẩy biên giới của Triều Tiên lên gần bằng biên giới CHDCND Triều Tiên với Trung Quốc hiện nay.[7]

Khoa học & công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài là một nhà bảo trợ văn hoá và một học giả, Triều Tiên Thế Tông cũng quan tâm đến khoa học và kỹ thuật.[2] Triều đại Thế Tông chứng kiến sự phát triển mạnh về khoa học và kỹ thuật. Vua Thế Tông có ý muốn giúp đỡ những người nông dân Triều Tiên, vì vậy ông hạ lệnh biên soạn sách để hướng dẫn cho họ. Kết quả năm 1429 tác phẩm Nông sự trực thuyết ra đời, tác phẩm này chứa đựng những thông tin về nhiều kỹ thuật canh tác khác nhau mà vua Thế Tông đã ra lệnh cho các quan chức đi thu thập ở trên khắp đất nước Triều Tiên.[8] Các kỹ thuật này cần thiết để thực hiện những phương pháp canh tác mới trong nền nông nghiệp Triều Tiên.[8]

Tưởng Anh Thực (蔣英實, 장영실, Chang Yŏngsil) là một nhà phát minh xuất chúng trong triều đại của Thế Tông. Ngay từ nhỏ Tưởng đã bộc lộ suy nghĩ thông minh và khả năng sáng tạo. Thế nhưng ông lại là một người thuộc tầng lớp dưới cùng xã hội. Trước đây vua cha Thái Tông đã nhận thấy tài năng của Tưởng và lập tức triệu ông đến kinh đô Hán Thành. Việc phong Tưởng làm quan và bảo trợ cho các nghiên cứu, phát minh của ông, nhiều quan chức trong triều đã phản đối mạnh mẽ vì họ cho rằng một kẻ tiện dân thuộc tầng lớp dưới không thể nào đứng ngang hàng với các vị quan lại quyền quý. Nhưng vua Thế Tông lại cho rằng Tưởng xứng đáng được như vậy vì ông ta là người có tài. Tưởng đã tạo ra các thiết kế quan trọng mới như đồng hồ nước, hỗn tượngđồng hồ mặt trời.[9] Tuy nhiên, sáng chế ấn tượng nhất của ông diễn ra năm 1442, đó là máy đo lượng mưa (vũ lượng kế) đầu tiên trên thế giới; mô hình này hiện không còn tồn tại và máy đo lượng mưa cổ nhất còn tồn tại ở Đông Á được chế tạo năm năm 1770, dưới triều vua Anh Tổ. Theo tác phẩm Thừa chính viện Nhật ký (承政院日記, 승정원일기, Sŭngchŏngwŏn Ilki) vua Anh Tổ dự định khôi phục lại sự huy hoàng của thời đại Thế Tông, và vì vậy ông đã đọc một biên niên sử về thời Thế Tông. Sau khi đọc đoạn đề cập tới máy đo lượng mưa, vua Anh Tổ đã ban chỉ cho sản xuất lại. Do có dấu ấn của vua Càn Long nhà Thanh (trị vì: 1735–1796) của Trung Quốc, niên đại 1770[10] nên máy đo lượng mưa này của người Triều Tiên đôi khi bị hiểu sai là được nhập khẩu từ Trung Quốc.

Thế Tông cũng tiến hành cải cách hệ thống lịch Triều Tiên, vốn trước đây dựa trên hệ quy chiếu là vĩ độ của kinh thành Trung Quốc.[8] Vua Thế Tông là người đầu tiên trong lịch sử Triều Tiên ra lệnh cho các nhà thiên văn học Triều Tiên biên soạn một bộ lịch lấy kinh đô Hán Thành làm vĩ độ trung tâm.[8] Hệ thống mới này cho phép các nhà thiên văn Triều Tiên dự đoán chính xác thời gian diễn ra nhật thựcnguyệt thực.[8][11]

Trong lĩnh vực y học cổ truyền Triều Tiên, hai luận thuyết quan trọng đã được viết ra trong thời gian trị vì của Thế Tông. Chúng là Hyangyak chipsŏngbang (Hương dược tập thành phương) và Ŭibang yuch'wi (Y phương loại tụ), được sử gia Yung Sik Kim nhận định là đại diện cho "các cố gắng của người Triều Tiên nhằm phát triển hệ thống kiến thức y học riêng của chính mình, khác biệt với những gì của Trung Hoa."[8]

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Về văn học, ông khuyến khích các quan chức đẳng cấp cao cùng các học giả đến nghiên cứu tại triều đình. Vua Thế Tông cũng giám sát, và có thể tự mình tham gia, trong việc tạo ra ngôn ngữ bằng văn bản của hangul và công bố nó tới dân chúng Triều Tiên trong Huấn dân chính âm (訓民正音, 훈민정음, Hunminjŏngŭm), có nghĩa là "những âm thanh bằng lời nói đúng ngụ ý để dạy dân."

Do phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp nên Thế Tông cho phép nông dân nộp thuế nhiều hoặc ít phù hợp với những biến động của thịnh vượng hay khó khăn. Vì điều này, họ có thể ít lo lắng hơn về hạn ngạch thuế và làm việc thay vì lúc được mùa lại đem bán các loại cây trồng. Khi triều đình dư thừa thực phẩm sẽ phân phối cho nông dân nghèo hay những nông dân cần đến nó. Năm 1429 Nông sự trực thuyết (農事直說, 농사직설, Nongsachiksŏl) đã được hoàn thành dưới sự giám sát của vua Thế Tông. Đây là quyển sách đầu tiên nói về nông nghiệp của Triều Tiên, giải quyết những vấn đề như gieo trồng, thu hoạch và canh tác đất.

Dù cho hầu hết quan lại và quý tộc phản đối việc sử dụng Hangul, nhưng những tầng lớp dưới vẫn chấp nhận học nó và họ đã có thể giao tiếp với nhau bằng văn bản.

Những tác phẩm của Thế Tông được đánh giá rất cao. Các tác phẩm nổi tiếng Long phi ngự thiên ca (龍飛御天歌, 용비어천가,Yongbiŏch'ŏnga, viết năm 1445), Thích Phổ Tường Tiết (釋譜詳節, 석보상열, Sŏkpo Sangchŏl, viết tháng 7 năm 1447), Nguyệt lân thiên giang trì khúc (月璘千江篪曲, 월린천강지곡, Wŏrin Ch'ŏnkang Chikok, viết tháng 7 năm 1447), và các tài liệu tham khảo Đông quốc chính âm (東國正音, 동국정음, Tong'guk Jŏngŭm, viết tháng 9 năm 1447).

Năm 1420, Thế Tông thiết lập Tập hiền điện (集賢殿; 집현전; Chiphyŏnjŏn) ở Dương Đức Cung. Đây là nơi hoạt động của nhiều lĩnh vực khác nhau, gồm các học giả được lựa chọn từ nhà vua. Nổi tiếng nhất là Huấn dân chính âm, trong đó hệ thống Chosŏn'gŭl bằng văn bản lần đầu tiên được xây dựng.[12]

Chosŏn'gŭl[sửa | sửa mã nguồn]

Thế Tông Đại Vương có một cải cách mang tầm ảnh hưởng lớn đến lịch sử Triều Tiên, đó là ban hành Chosŏn'gŭl, bảng chữ cái ký âm dùng cho tiếng Triều Tiên hiện nay.[13]

Trước khi hệ thống chữ Chosŏn'gŭl được ban hành, Triều Tiên chỉ sử dụng chữ Hán (hancha) trong văn bản, và Hán văn (Hanmun) đôi khi được dùng để viết các văn bản triều chính bằng tiếng Hán cổ. Một người muốn đọc và viết được các văn bản thời đó phải học chữ Hán - một thứ chữ không hề dễ học chút nào. Vì vậy gần như chỉ có những thành viên thuộc tầng lớp thượng lưu của xã hội mới biết chữ, còn đại đa số dân chúng là những người mù chữ. Hơn nữa, mặc dù có nhiều cải biên, việc dùng chữ Hán để ký âm Triều Tiên rất bất cập vì cấu trúc câu và ngữ pháp Triều Tiên mang nhiều điểm khác biệt so với ngữ pháp tiếng Hoa.[14]

Thế Tông Đại Vương chủ trì việc giới thiệu 28 bảng chữ cái Triều Tiên, với mong muốn rằng mọi tầng lớp nhân dân Triều Tiên sẽ đọc và viết được ngôn ngữ này. Ông cũng cố gắng thiết lập sự đồng nhất về văn hoá cho thần dân thông qua cách viết thống nhất. Quyển đầu tiên được xuất bản năm 1446, bất cứ ai cũng có thể học Chosŏn'gŭl khoảng độ mấy ngày. Những người không biết Chosŏn'gŭl cũng có thể cơ bản phát âm được chữ viết tiếng Triều Tiên một cách chính xác chỉ sau vài giờ học. Lý do vì Chosŏn'gŭl là:

  1. Ký tự tượng thanh
  2. Ngôn ngữ Triều Tiên không có âm (khác với tiếng Hán).

Ông thiết lập các mẫu tự Chosŏn'gŭl từ các đường gạch và gắn mỗi đường với một hình vẽ đã được giản hóa của các hình mẫu tạo thành từ miệng, lưỡi và răng khi tạo ra âm thanh liên quan đến ký tự đó. Nói rộng ra, một ký tự đại thể tương đương như một âm tiết trong tiếng Việt và các từ được cấu thành bằng cách viết các ký tự mang âm tiết theo một cách nào đó. Đây không phải là kiểu viết thành hàng, các ký tự mang âm tiết có khuynh hướng "kết lại" thành những nhóm hai hoặc ba ký tự.

Qua đời và di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Thế Tông Đại Vương ở Yeoju, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc.

Năm 1450, Quốc vương thăng hà ở tuổi 54, được táng ở Anh Lăng (英陵). Vương Thế tử Lý Hướng lên ngôi, đó là Triều Tiên Văn Tông.

Cả hai vị trí trung tâm Seoul: Phố Sejongno và trung tâm nghệ thuật biểu diễn Sejong được đặt theo tên của vua Thế Tông. Ông còn được miêu tả trên các tờ tiền giấy mệnh giá 10.000 Won của Hàn Quốc.[15]

Đầu năm 2007, chính phủ Hàn Quốc đã quyết định thành lập đặc khu trên một phần hiện tại của tỉnh Chungcheongnam-do, gần Daejeon hiện nay. Khu vực mới này được đặt tên là thành phố tự trị đặc biệt Sejong được đặt theo miếu hiệu của Thế Tông, sẽ thay thế thủ đô Seoul trong tương lai. Cuộc đời của Thế Tông được thể hiện trong loạt phim lịch sử phát sóng trên kênh KBS mang tên Đại Vương Thế Tông vào năm 2008.[16]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hậu cung:
  1. Chiêu Hiến vương hậu Thẩm thị (昭憲王后沈氏, 1395 - 1446), người ở Thanh Tùng , là con gái của Thanh Xuyên phủ viện quân Thẩm Ôn (靑川府院君沈溫) và Tam Hàn Quốc Đại phu nhân An thị ở Thuận Hưng (三韓國大夫人順興安氏). Bà sinh hạ 8 Vương tử và 2 công chúa, trong đó có Triều Tiên Văn TôngTriều Tiên Thế Tổ.
  2. Thận tần Kim thị (慎嬪金氏, 1404 - 1464), người ở Thanh Châu. Cha là Kim Nguyên (金元), mẹ là Cao phu nhân ở Sóc Ninh. Xuất thân hàn vi, bà nhập nội mệnh phủ làm cung nữ của Chiêu Hiến vương hậu, về sau được Thế Tông sủng ái. Tuy vậy, bà cẩn trọng nho nhã, rất được Vương hậu tín nhiệm, thăng làm Chiêu dung (昭容), rồi Chiêu nghi (昭儀). Năm 1439, tấn phong Quý nhân (貴人), vì xuất thân không cao nên quần thần bàn nghị chuyện thăng vị quá cao, tuy vậy Thế Tông vẫn chủ trương yêu mến bà. Năm 1442, tấn phong Thận tần (慎嬪), cao quý nhất trong hàng hậu cung, chỉ kém Vương hậu 1 bậc. Sau khi Thế Tông đại vương thăng hà, bà xuất gia làm ni sư cho đến khi qua đời. Bà đã hạ sinh cho Thế Tông 6 vị vương tử: Quế Dương quân, Nghĩa Xương quân, Mật Thành quân, Dực Hiện quân, Ninh Hải quânĐầm Giang quân. Ngoài ra còn 2 ông chúa nhưng đều chết yểu.
  3. Huệ tần Dương thị (惠嬪楊氏, ? - 1455), người ở Thanh Châu, không rõ xuất thân cha mẹ là ai. Khi vào hầu Thế Tông, phong vị của bà sơ phong Quý nhân (貴人), sau khi Thế Tông qua đời bị buộc ra khỏi cung sống. Năm 1452, Văn Tông đại vương thăng hà, Dương quý nhân giúp đỡ Triều Tiên Đoan Tông lên ngôi nên được đặt cách tấn phong làm Huệ tần (惠嬪), được Đoan Tông mời về ở trong cung, giao cho quyền lực xử lý hậu cung như bậc trưởng bối. Huệ tần trong cung hoàn hành bè đảng, nhiễu loạn trong triều. Triều Tiên Thế Tổ dùng chính biến lên ngôi, Huệ tần Dương thị bị phế tước vị và bị buộc tự sát. Về sau, Triều Tiên Túc Tông khôi phục phong hiệu, và Triều Tiên Chính Tổ ban thụy là Mẫn Trinh (愍貞). Bà sinh hạ 3 vương tử cho Thế Tông là: Hán Nam quân, Thọ Xuân quânVĩnh Phong quân.
  4. Lệnh tần Khương thị (令嬪姜氏, ? - 1483), người ở Tấn Châu. Không rõ thân phận khi còn sống của bà, theo lăng mộ trong lăng của Thế Tông thì bà chỉ là Cung nhân Khương thị. Về sau, xét công lao sinh ra Hòa Nghĩa quân Lý Anh, triều đình đồng ý gọi là với phong hiệu [Lệnh tần; 令嬪].
  5. Quý nhân Phác thị (貴人朴氏, 1369 - 1422), người ở Mật Dương.
  6. Quý nhân Thôi thị (貴人崔氏, 1376 - 1452), người ở Toàn Châu.
  7. Chiêu dung Hồng thị (昭容洪氏).
  8. Thục nghi Tào thị (淑儀曺氏).
  9. Thục viên Lý thị (淑媛李氏).
  10. Thượng tẩm Tống thị (尚寢宋氏).
  11. Tư ký Xa thị (司記車氏).

Vương tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Triều Tiên Văn Tông Lý Hướng [李珦], mẹ là Chiêu Hiến vương hậu.
  2. Triều Tiên Thế Tổ Lý Nhu [李瑈], mẹ là Chiêu Hiến vương hậu.
  3. An Bình Đại quân [安平大君, 1418 - 1453], mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Lấy Phủ phu nhân Trịnh thị ở Diên Nhật.
  4. Lâm Quán Đại quân [臨瀛大君, 1420 - 1469], húy là Lý Cầu (李璆), mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Lấy Quận phu nhân Nam thị ở Nghi Ninh và Tề An phủ phu nhân Thôi thị ở Toàn Châu.
  5. Quảng Bình Đại quân [廣平大君, 1425 - 1444], húy là Lý Dư (李璵), mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Lấy Vĩnh Gia Phủ phu nhân Thân thị ở Bình Sơn.
  6. Hòa Nghĩa quân [和義君, 1425 - 1460], húy là Lý Anh (李瓔), mẹ là Lệnh tần Khương thị. Lấy quận phu nhân Phác thị ở Mật Dương.
  7. Cẩm Thành Đại quân [錦城大君, 1426 - 1457], húy là Lý Du (李瑜), mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Lấy Hoàn Sơn Phủ phu nhân Thôi thị ở Toàn Châu.
  8. Quế Dương quân [桂陽君, 1427 - 1464], mẹ là Thận tần Kim thị. Lấy Tinh Thiện Quận phu nhân Hàn thị ở Thanh Châu.
  9. Bình Nguyên Đại quân [平原大君, 1427 - 1445], húy là Lý Lâm (李琳), mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Lấy Giang Ninh Phủ phu nhân Hồng thị ở Nam Dương.
  10. Nghĩa Xương quân [義昌君, 1428 - 1460], mẹ là Thận tần Kim thị. Lấy Lương Nguyên Quận phu nhân Kim thị ở Diên An.
  11. Hán Nam quân [漢南君, 1429 - 1459], húy là Lý Vu (李玗), mẹ là Huệ tần Dương thị. Lấy Quận phu nhân Quyền thị ở An Đông.
  12. Mật Thành quân [密城君, 1430 - 1479], húy là Lý Sâm (李琛), mẹ là Thận tần Kim thị. Lấy Phong Đức Quận phu nhân Mẫn thị ở Ly Hưng.
  13. Thọ Xuân quân [壽春君, 1431 - 1455], mẹ là Huệ tần Dương thị. Lấy Vinh Xuyên Quận phu nhân Trịnh thị ở Diên Nhật.
  14. Dực Hiện quân [翼峴君, 1431 - 1463], mẹ là Thận tần Kim thị. Lấy Kim Đê Quận phu nhân Triệu thị ở Bình Nhưỡng.
  15. Vĩnh Ưng Đại quân [永膺大君, 1434 - 1467], húy là Lý Diễm (李琰), mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Lấy Xuân Thành Phủ phu nhân Trịnh thị ở Hải Châu và Đái Phương phủ phu nhân Tống thị ở Lệ Sơn.
  16. Vĩnh Phong quân [永豊君, 1434 - 1456], mẹ là Huệ tần Dương thị. Lấy Quận phu nhân Phác thị ở Thuận An.
  17. Ninh Hải quân [寧海君, 1435 - 1477], mẹ là Thận tần Kim thị. Lấy Lâm Xuyên Quận phu nhân Thân thị ở Bình Sơn.
  18. Đầm Giang quân [潭陽君, 1439 - 1450], mẹ là Thận tần Kim thị.

Vương nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trinh Chiêu công chúa [貞昭公主, 1412 - 1424], mẹ là Chiêu Hiến vương hậu.
  2. Trinh Y công chúa [貞懿公主, 1415 - 1477], mẹ là Chiêu Hiến vương hậu. Hạ giá lấy Diên Xương úy An Mạnh Đam (安孟聃).
  3. Hai con gái với của Thận tần Kim thị.
  4. Trinh Hiển ông chúa [貞顯翁主, 1424 - 1480], mẹ là Thượng tẩm Tống thị. Hạ giá lấy Linh Xuyên quân Doãn Sư Lộ (尹師路).
  5. Trinh An ông chúa [貞安翁主, ? - 1461], mẹ là Thục viên Lý thị. Hạ giá lấy Thẩm An Nghĩa (沈安義).
  6. Một con gái với của Tư ký Xa thị.

Miếu hiệu và thuỵ hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • King Sejong Jangheon Yeongmun Yemu Inseong Myeonghyo.
  • 세종장헌영문예무인성명효대왕.
  • 世宗莊憲英文睿武仁聖明孝大王.
  • Thế Tông Trang Hiến Anh Văn Duệ Vũ Nhân Thánh Minh Hiếu Đại Vương.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Triều Tiên vương triều thực lục, Thế Tông thực lục tức vị niên
  2. ^ a ă Joseph Needham, sách đã dẫn, tr. 16
  3. ^ Nguyên văn "Sejong was a great statesman and a patron of all fields of learning", Joseph Needham, sách đã dẫn, tr. 14
  4. ^ Joseph Needham, sách đã dẫn, tr. 14
  5. ^ (tiếng Triều Tiên)계해조약
  6. ^ <<책한권으로 읽는 세종대왕실록>>(Learning Sejong S3ilok in one book) ISBN 10 - 890107754X
  7. ^ <<책한권으로 읽는 세종대왕실록>>(Learning Sejong Silok in one book) ISBN 10 - 890107754X
  8. ^ a ă â b c d Kim (1998), 57.
  9. ^ (tiếng Triều Tiên)장영실 蔣英實
  10. ^ Kim (1998), 51.
  11. ^ (tiếng Triều Tiên)Science and Technology during Sejong the Great of Joseon
  12. ^ (tiếng Triều Tiên)Introduction to Sejong the Great
  13. ^ Kim Jeong Su(1990), <<한글의 역사와 미래>>(History and Future of Hangul) ISBN 10 - 8930107230
  14. ^ Hunmin Jeongeum Haerye, postface of Jeong Inji, p. 27a, translation from Gari K. Ledyard, The Korean Language Reform of 1446, p. 258
  15. ^ (tiếng Triều Tiên)Tourguide - Tomb of Sejong the Great
  16. ^ Official website of the drama King Sejong the Great

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kim, Yung Sik. (1998). "Problems and Possibilities in the Study of the History of Korean Science," Osiris (2nd series, Volume 13, 1998): 48–79.
  • King Sejong the Great: the Light of Fifteenth Century Korea, Young-Key Kim-Renaud, International Circle of Korean Linguistics, 1992, softcover, 119 pages, ISBN 1-882177-00-2
  • Kim-Renaud, Young-Key. 2000. Sejong's theory of literacy and writing. Studies in the Linguistic Sciences 30.1:13-46.
  • Gale, James Scarth. History of the Korean People Annotated and introduction by Richard Rutt. Seoul: Royal Asiatic Society, 1972..
  • Joseph Needham, Lu Gwei-Djen, John H. Combridge, John S. Mayor, The Hall of Heavenly Records: Korean Astronomical Instruments and Clocks, 1380-1780, Cambridge University Press, 2004, ISBN 0-521-61698-0, 9780521616980.

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]