Triều Tiên Chính Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Chính Tổ
Chŏngjo, 정조
朝鲜正祖.jpg
Chân dung vua Chính Tổ.
Quốc vương nhà Triều Tiên
Trị vì 10 tháng 3, 1776 - 28 tháng 6, 1800
Đăng quang 10 tháng 3, 1776
Tiền nhiệm Triều Tiên Anh Tổ
Kế nhiệm Triều Tiên Thuần Tổ
Thông tin chung
Thê thiếp Hiếu Ý Vương hậu
Hậu duệ
Tên thật Lý Toán (李祘)
Miếu hiệu Chính Tổ (正祖)
Vương tộc Vương tộc Lý thị
Thân phụ Trang Hiến Thế tử
Thân mẫu Hiến Kính Huệ Tần
Sinh 22 tháng 9, 1752
Xương Khánh Cung, Triều Tiên
Mất 28 tháng 6, 1800 (tuổi 47)
Xương Khánh Cung, Triều Tiên
An táng Geonneung, Hwaseong, Gyeonggi

Triều Tiên Chính Tổ (chữ Hán: 朝鮮正祖; Hangul: 조선정조, 22 tháng 9, 175228 tháng 6, 1800) là vị Quốc vương thứ 22 của nhà Triều Tiên. Ông trị vì từ năm 1776 đến năm 1800, tổng cộng 24 năm.

Chính Tổ Đại vương là cháu đích tôn của Quốc vương tiền nhiệm Triều Tiên Anh Tổ và là con trai của vị Vương thế tử nổi tiếng bậc nhất lịch sử triều đại phong kiến Triều Tiên, Trang Hiến Vương thế tử Lý Huyên (莊獻王世子 李愃, 1735 - 1762) hay còn gọi là Tư Điệu Vương thế tử (思悼王世子). Cái chết của Vương thế tử luôn là đề tài tranh luận của các nhà sử học, và việc con trai ông là Chính Tổ Đại vương nối ngôi cũng là đề tài cho nhiều cảm hứng nghệ thuật, văn họcđiện ảnh.

Triều đại của Chính Tổ đã cố gắng thực hiện cải cách bộ máy chính quyền Triều Tiên, giúp đất nước đi lên. Triều đại của ông còn nổi tiếng với việc trọng dụng quyền thần Hồng Quốc Vinh. Chính Tổ được các học giả ngày nay xem là một trong những Quốc vương anh minh và có tầm nhìn xa trông rộng nhất của nhà Triều Tiên, bên cạnh Triều Tiên Thế Tông.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tên huý của Chính Tổ là Lý Toán (李祘, Yi San), ấu danh Hy Thọ (禧壽), tên tự là Quang thúc (光叔), tên hiệu Dưỡng Tính Hiên (養性軒). Ông sinh ra vào ngày 22 tháng 9 (tức 28 tháng 10 dương lịch), Anh Tổ năm thứ 28 (1752) tại điện Cảnh Xuân, cung Xương Đức (景春殿, 昌慶宮). Ông là trai thứ hai con của Trang Hiến Vương thế tử Lý Huyên (李愃, 이선) và Vương thế tử tần họ Hồng, năm 1759, được sắc lập làm Vương thế tôn (王世懿). Người anh cả cùng mẹ của ông là Ý Chiêu Vương thế tôn (懿昭王世懿, 1750 - 1752) đã mất cùng năm, trước khi ông ra đời. Ngoài ra, Chính Tổ còn có ba người em trai khác mẹ là Ân Ngạn Quân (恩彦君, 1754 - 1801), Ân Tín Quân (恩信君, 1755 - 1771), Ân Toàn Quân (恩全君, 1759 - 1777), con của Trang Hiến Vương thế tử với những hầu thiếp khác là Lương đệ họ Lâm (良娣 林氏) và Thủ tắc họ Phác (守則 朴氏).

Năm 1757, ngày 15 tháng 2, nguyên phối chính thất của Anh TổTrinh Thánh Vương hậu băng hà, đến ngày 26 tháng 3 cùng năm, đích mẫu của Anh TổNhân Nguyên Vương hậu băng hà. Sự qua đời của một loạt những thành viên nắm giữ vai trò quan trọng trong Vương thất yêu mến và ủng hộ Trang Hiến Vương thế tử khiến cho mối bất hòa giữa ông với Anh Tổ và triều thần trở nên sâu sắc. Năm 1759, Khánh Châu Kim thị (慶州 金氏) trở thành Kế Vương phi, phe phái chống đối Vương thế tử trong triều đình càng thêm lớn mạnh.

Năm 1762, xảy ra sự kiện Nhâm Ngọ họa biến (壬午禍變), Vương thế tử cha ông bị Anh Tổ và triều thần buộc tội và ban chết, mẹ ông là Vương thế tử tần họ Hồng cũng bị đổi gọi làm Huệ tần (惠嬪). Ít lâu sau, Anh Tổ niệm tình phụ tử mà truy tặng cho cha ông làm Tư Điệu Vương thế tử (思悼王世子). Trong tự truyện Nhàn Trung lục (閑中錄, 한중록, Hanchungrok), Huệ tần có đề cập đến những chi tiết về người chồng xấu số của mình.

Năm 1764, trong Kỷ Tỵ họa biến (己巳禍變), Anh Tổ buộc Chính Tổ phải làm con thừa tự của Hiếu Chương Vương thế tử Lý Hưng (孝章王世子李緈, 1719 - 1728), người con trưởng của Anh TổÔn Hy Tĩnh Tần họ Lý.

Khi làm Vương thế tôn, Chính Tổ đã gặp gỡ Hồng Quốc Vinh[1] (洪國榮, 홍국영), một quý tộc xuất thân từ sĩ tộc Phong Sơn Hồng thị (豊山 洪氏) của Huệ tần họ Hồng, một trong những triều thần có sự nghiệp gây nhiều tranh cãi. Ban đầu, Hồng Quốc Vinh là trợ thủ đắc lực giúp Chính Tổ lên ngôi, ra sức củng cố Vương quyền, nhưng sau đó lại bị Chính Tổ lưu đày vì có ý lộng quyền và mưu hai chính thất của ông là Hiếu Ý Vương hậu.

Lên kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1776, ngày 5 tháng 3, Anh Tổ băng hà. Sang ngày 10 tháng 3, Vương thế tôn Lý Toán lên kế vị. Ông đã khẳng định mình là con trai của Tư Điệu Vương thế tử Lý Huyên, đồng thời để tỏ lòng hiếu thuận với sinh mẫu, Chính Tổ đã phong tặng Huệ tần họ Hồng làm Huệ Khánh cung (惠慶宮). Trong Vương thất, danh hiệu này chỉ đứng dưới Trinh Thuần Vương hậu họ Kim khi ấy đang là Duệ Thuận Vương đại phi.

Thời kỳ trị vì của ông được đánh giá là ổn định, không rối loạn như thời kỳ Anh Tổ trị vì. Anh Tổ đã quyết định ban chết cho người con trai độc nhất khi ấy là Trang Hiến Vương thế tử dưới áp lực lớn và ảnh hưởng đáng kể bởi các thế lực quyền thần, những người vốn có sẵn mâu thuẫn với Vương thế tử. Chính Tổ nhiều lần vượt qua biến động chính trường với sự giúp đỡ của Hồng Quốc Vinh[1].

Năm 1787, ông minh oan cho cha là Tư Điệu Vương thế tử, đổi gọi thụy hiệu là Trang Hiến (莊獻). Mộ phần của Trang Hiến Thế tử cũng được sửa sang và đổi tên gọi từ Thùy Ân mộ (垂恩墓) thành Vĩnh Hựu viên (永祐园), từ đường Thùy Ân miếu (垂恩庙) đổi gọi làm Cảnh Mộ cung (景慕宫). Còn Hiếu Chương Vương thế tử Lý Hưng (孝章王世子 李緈) và Hiền tần họ Triệu (賢嬪 趙氏) trên danh nghĩa vẫn là cha mẹ của ông, được truy tôn làm Chân Tông Đại vương (真宗大王) và Hiếu Thuần Vương hậu (孝純王后), lăng mộ đặt tại Vĩnh lăng (永陵), Pha Châu.

Năm 1789, ông quyết định dời mộ phần của cha là Trang Hiến Vương thế tử về Thủy Nguyên, đặt tại Hiển Long viên (顯隆園), về sau đổi thành Long lăng (隆陵). Tại đây, Chính Tổ xây dựng Hoa Thành để canh giữ cho lăng mộ của Trang Hiến Thế tử. Hiện nay, Hoa Thành là một trong những di sản văn hóa thế giới.

Phục hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính Tổ khởi xướng một cuộc cải cách và phục hưng mới cho triều đại Triều Tiên. Ban đầu, ông tiếp nối chính sách Đãng bình (蕩平, 탕평, T'angp'yŏng) của tổ phụ Anh Tổ. Ông củng cố Vương quyền, tập trung quyền lực để thi hành những cải cách một cách thuận lợi.

Chính Tổ ban hành nhiều cải cách trong suốt thời kỳ trị vì, ông cho xây dựng Khuê Chương các (奎章閣, 규장각, Kyuchangkak), một thư viện quốc gia với mục đích phát triển vị thế văn hóa, chính trị của đất nước và tuyển dụng nhân tài vào bộ máy triều đình. Ông cũng tuyển dụng các nho sỹ có xuất thân thấp kém, những người có cha thuộc tầng lớp quý tộc Lưỡng ban (兩班, 양반, Yangban) và mẹ là những Tiện dân (賤民, 천민, Ch'ŏnmin), bổ nhiệm vào các vị trí trong bộ máy quan lại, trước đây, họ bị tầng lớp sỹ phu khinh thường vì dòng máu "tạp chủng bẩn thỉu" và bị cấm tham gia chính trường. Điều này góp phần làm giảm sự trói buộc và khoảng cách của những thành viên ngoại thích và các gia đình quý tộc giàu có, một hiện tượng phổ biến xuyên suốt lịch sử Triều Tiên.

Chính Tổ đã ủng hộ các quan lại theo đường lối Thực học (實學, 실학, Sirhak), và ngược lại các quan lại này tỏ ra trung thành với nhà vua. Trong thời đại của Chính Tổ, văn hóa đại chúng Triều Tiên tiến thêm một bước phát triển mới.

Bên cạnh đó, thời đại của ông cũng có một vài phát minh quan trọng như là làm chiếc cầu phao có thể nhiều người qua sông cùng lúc. Người phát minh ra chiếc cầu phao này là Đinh Nhược Dong (丁若鏞, 정약용, Jeong Yak Yong), ông đã giúp Chính Tổ rất nhiều trong công việc.

Ông đề cao những người có tư tưởng cải cách mặc dù thời bấy giờ những khuynh hướng ấy không được chấp nhận ở Triều Tiên. Trong thời đại của Chính Tổ, các quốc gia khác đã đạt được nhiều tiến bộ do có một vài cuộc thay đổi vương quyền. Tuy nhiên, Chính Tổ không sống đủ lâu để đạt được nhiều thành quả hơn.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1800, ngày 28 tháng 6, Chính Tổ đại vương thăng hà đột ngột ở hiên Nghênh Xuân, cung Xương Khánh (迎春軒, 昌慶宮), khi chỉ mới 48 tuổi. Ông đã không kịp nhìn thấy giấc mộng chính trị cả đời mình được thực hiện bởi người con trai, Thuần Tổ[2]. Đến tận bây giờ vẫn có rất nhiều tài liệu lịch sử bàn về cái chết bí ẩn của Chính Tổ.

Ông được dâng thụy hiệuKính Thiên Minh Đạo Hồng Đức Hiển Mô Văn Thành Vũ Liệt Thánh Nhân Trang Hiếu Đại vương (敬天明道洪德顯謨文成武烈聖仁莊孝大王), miếu hiệuChính Tông (正宗), được mai táng tại Kiện lăng (健陵, 건릉, Kŏnnŭng), ngày nay tọa lạc ở Hoa thành.

Thời Đại Hàn Đế quốc, Cao Tông truy tôn ông làm Chính Tổ (正祖), thụy hiệu là Tuyên Hoàng đế (宣皇帝).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ phụ: Triều Tiên Anh Tổ Lý Khâm (朝鮮英祖 李昑, 1694 - 1776).
  • Tổ mẫu: Chiêu Dụ Ánh tần họ Lý (昭裕暎嬪 李氏, 1696 - 1764), người Toàn Nghĩa (全義), con gái của Lý Du Phiên (贈贊成 李楡蕃) và phu nhân họ Kim ở Lễ Tuyền (醴泉 金氏). Lý thị xuất thân cung nữ, sau được Anh Tổ sủng hạnh trở thành Thừa ân nội nhân (承恩內人), Anh Tổ năm thứ 2 (1726) ban cho danh phận Thục nghi (淑儀), sau thăng đến bậc Quý nhân (貴人), ngự ở hiên Tập Phúc, cung Xương Khánh (集福軒, 昌慶宮). Năm Anh Tổ thứ 6 (1730) được thăng lên hàng Tần (嬪) với mỹ hiệu Ánh (暎), gọi là Ánh tần (暎嬪). Mất năm 1764, Anh Tổ truy tặng làm Nghĩa Liệt cung (義烈宮), Chính Tổ nối ngôi (1776) đổi gọi làm Tuyên Hy cung (宣禧宮).
    • Thân phụ: Trang Hiến Vương thế tử Lý Huyên (莊獻王世子 李愃, 1735 - 1762), con trai của Anh TổChiêu Dụ Ánh tần họ Lý. Sau sự kiện Nhâm Ngọ họa biến (1762) bị Anh Tổ phế truất và ban chết, sau lại truy tặng làm Tư Điệu Vương thế tử (思悼王世子). Chính Tổ nối ngôi (1776) đổi gọi làm Trang Hiến Vương thế tử (莊獻王世子).
    • Thân mẫu: Hiến Kính Huệ tần họ Hồng (獻敬惠嬪 洪氏, 1735 - 1815), người Phong Sơn (豊山), con gái của Vĩnh Phong Phủ viện quân Hồng Phượng Hán (永豊府院君 洪鳳漢) và Hàn Sơn Phủ phu nhân họ Lý ở Hàn Sơn (韓山府夫人 韓山 李氏). Hồng thị là nguyên phối chính thất của Trang Hiến Thế tử, Anh Tổ năm thứ 20 (1744), Trang Hiến Vương thế tử Lý Huyên khi ấy đang là Vương thế tử (王世子) lấy bà làm chính thất, phong Vương thế tử tần (王世子嬪). Sau sự kiện Nhâm Ngọ họa biến (1762), Vương thế tử bị Anh Tổ ban chết, Hồng thị cũng bị đổi gọi làm Huệ tần (惠嬪), Chính Tổ nối ngôi (1776) phong tặng mỹ hiệu Huệ Khánh cung (惠慶宮). Thuần Tổ năm thứ 15 (1815) qua đời điện Cảnh Xuân, cung Xương Khánh (景春殿, 昌慶宮).
    • Nghĩa phụ: Hiếu Chương Vương thế tử Lý Hưng (孝章王世子 李緈, 1719 - 1728), con trai của Anh TổÔn Hy Tĩnh tần họ Lý. Sau sự kiện Kỷ Tỵ họa biến (1764), Anh Tổ buộc Chính Tổ làm con thừa tự của Hiếu Chương Vương thế tử (孝章王世子) và Hiếu Thuần Hiền tần (孝純賢嬪). Chính Tổ lên ngôi (1776) truy tôn làm Chân Tông Đại vương (真宗大王).
    • Nghĩa mẫu: Hiếu Thuần Hiền tần họ Triệu (孝純賢嬪 趙氏, 1715 - 1751), người Phong Nhưỡng (豐壤), con gái của Triệu Văn Mệnh (趙文命). Triệu thị là nguyên phối chính thất của Hiếu Chương Vương thế tử, Anh Tổ năm thứ 3 (1727), Hiếu Chương Vương thế tử khi ấy đang là Vương thế tử (王世子) lấy bà làm chính thất, phong Vương thế tử tần (王世子嬪). Anh Tổ năm thứ 4 (1728), Vương thế tử qua đời, Triệu thị cũng bị đổi gọi làm Hiền tần (賢嬪). Anh Tổ năm thứ 27 (1751) qua đời tại Tư Thiện đường (資善堂), Anh Tổ truy tặng thụy hiệu Hiếu Thuần Hiền tần (孝純賢嬪), Chính Tổ nối ngôi (1776) tôn làm Hiếu Thuần Vương hậu (孝純王后).
  • Vương hậu:
  1. Hiếu Ý Vương hậu họ Kim (孝懿王后 金氏, 1753 - 1821), người ở Thanh Phong (清風), con gái của Thanh Nguyên Phủ viện quân Kim Thời Mặc (清原府院君 金時默) và Đường Thành Phủ phu nhân họ Hồng ở Nam Dương (唐城府夫人 南陽 洪氏). Kim thị là nguyên phối chính thất của Chính Tổ, Anh Tổ năm thứ 38 (1762), Chính Tổ khi ấy đang là Vương thế tôn (王世孫) lấy bà làm chính thất, phong Vương thế tôn tần (王世孫嬪), sau Chính Tổ lên ngôi (1776) lập làm Vương phi (王妃). Kim thị không sinh được con nối dõi, nhận Văn Hiếu Vương thế tử Lý Hanh (文孝王世子 李㬀), Thuần Tổ Lý Công (李玜) làm con, thời Thuần Tổ tôn làm Duệ Kính Từ Túy Vương đại phi (睿敬慈粹王大妃).
  • Hậu cung:
  1. Nhân Thục Nguyên tần họ Hồng (仁淑元嬪 洪氏, 1766 - 1779), xuất thân sĩ tộc Phong Sơn Hồng thị (豊山 洪氏) của Hiến Kính Huệ tần, con gái của Hồng Lạc Xuân (洪樂春), em gái của Hồng Quốc Vinh (洪國榮). Chính Tổ năm thứ 2 (1778) nhập cung, ban cho danh phận Tần (嬪) với mỹ hiệu Nguyên (元), gọi là Nguyên tần (元嬪), rất được thánh sủng, sau lại được ban thêm cung hiệu là Thục Xương cung (淑昌宮), ngự ở gác Dưỡng Tâm, cung Xương Đức (養心閣, 昌德宮). Chính Tổ năm thứ 3 (1779) qua đời, Chính Tổ thương xót, truy tặng thụy hiệu Hiếu Huy cung, Nhân Thục Nguyên tần (孝徽宮, 仁淑元嬪). Về sau anh trai bà là Hồng Quốc Vinh mắc tội, triều thần dâng tấu rằng Nguyên tần không sinh được con nối dõi, lại là thân nhân của tội thần nên tước bỏ thụy hiệu, Chính Tổ không đồng ý, vẫn cho an táng bà tại Nhân Minh viên (仁明園).
  2. Hòa tần họ Doãn (和嬪 尹氏, 1765 - 1824), người Nam Nguyên (南原 ), con gái của Doãn Xương Dận (尹昌胤). Chính Tổ năm thứ 4 (1780) nhập cung, ban cho danh phận Tần (嬪) với mỹ hiệu Hòa (和), gọi là Hòa tần (和嬪), lại được ban thêm cung hiệu là Khánh Thọ cung (慶壽宮). Chính Tổ năm thứ 4 (1781), Doãn thị hoài thai, có thuyết cho rằng bà sinh hạ một Ông chúa chết yểu.
  3. Nghi tần Thành Đức Nhậm (宜嬪 成德任, 1753 - 1786), người Xương Ninh (昌寧), con gái của Thành Dận Hựu (成胤祐) và phu nhân họ Lâm (林氏). Thành thị xuất thân cung nữ, là hậu cung được Chính Tổ ân sủng bậc nhất, Chính Tổ năm thứ 6 (1780) sinh hạ trưởng tử là Văn Hiếu Vương thế tử Lý Hanh (文孝王世子 李㬀), ban cho danh phận Chiêu dung (昭容), ngự ở Ánh Hoa đường, cung Xương Đức (映花堂, 昌德宮), 1 năm sau lại được tấn phong lên hàng Tần (嬪) với mỹ hiệu Nghi (宜), gọi là Nghi tần (宜嬪), không được ban cung hiệu như các phi tần xuất thân quý tộc khác. Văn Hiếu Vương thế tử mất vào ngày 11 tháng 5 năm 1786, Nghi tần qua đời vào ngày 14 tháng 9 cùng năm khi mang long thai, nhiều giả thuyết cho rằng cái chết đột ngột của bà do sự sắp đặt những âm mưu chính trị hay tranh sủng nội cung. Chính sử ghi lại Chính Tổ bàng hoàng và không thể nhớ bất cứ điều gì trong những ngày sau đó.
  4. Hiển Mục Tuy tần họ Phác (顯穆綏嬪 朴氏, 1770 - 1822), người Phan Nam (潘南), con gái của Phác Chuẩn Nguyên (朴準源) và phu nhân họ Nguyên ở Nguyên Châu (原州 元氏). Sau khi Nghi tần họ ThànhVăn Hiếu Vương thế tử qua đời, Chính Tổ không còn người nối dõi, triều đình buộc phải tuyển chọn thêm hậu cung. Chính Tổ năm thứ 13 (1787), Phác thị nhập cung, ban cho danh phận Tần (嬪) với mỹ hiệu Tuy (綏), gọi là Tuy tần (綏嬪), lại được ban thêm cung hiệu là Gia Thuận cung (嘉順宮), ngự ở Bảo Khánh đường, cung Xương Đức (寶慶堂, 昌德宫). Đến Chính Tổ năm thứ 16 (1790), Tuy tần sinh hạ Vương tử, tức Thuần Tổ Lý Công (李玜), sang đến năm 1793, bà sinh thêm Thục Thiện Ông chúa. Thời Thuần Tổ được gọi theo cung hiệu Gia Thuận cung (嘉順宮) mà Chính Tổ ban tặng, an táng tại Huy Khánh viên (徽慶園). Thời Đại Hàn Đế quốc, Cao Tông truy tặng làm Hiển Mục Tuy phi (顯穆綏妃).

Vương tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Văn Hiếu Vương thế tử Lý Hanh (文孝王世子 李㬀, 1782 - 1786), con trai của Nghi tần họ Thành. Thời Đại Hàn Đế quốc, Cao Tông truy tặng làm Văn Hiếu Hoàng thái tử (文孝皇太子).
  2. Triều Tiên Thuần Tổ Lý Công (李玜), con trai của Hiển Mục Tuy phi họ Phác.

Vương nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Một Ông chúa với Nghi tần họ Thành, chết yểu (1784).
  2. Thục Thiện Ông chúa (淑善翁主, 숙선옹주, 1793 - 1836), con gái của Hiển Mục Tuy phi họ Phác. Hạ giá lấy Vĩnh Minh Uý Hồng Hiển Chu (洪顯周).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]