Hyun Bin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.

Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kim.

Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.

Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.

Hyun Bin (현빈, Hán tự: 炫彬, Huyễn Bân) (sinh ngày 25 tháng 9 năm 1982 tại Seoul) là một nam diễn viên người Hàn Quốc. Anh được biết đến trong vai chính của bộ phim truyền hình Tên tôi là Kim Sam SoonSecret Garden (2010-2011).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Anh trở thành ngôi sao trong bộ phim tình cảm hài hước năm 2005 Tên tôi là Kim Sam Soon với Kim Sun Ah. Sam Soon đạt tỉ suất người xem trung bình lên đến 37% và 50.5% cho tập cuối,[1] anh đã đạt giải thưởng xuất sắc nhất tại MBC Drama Awards.

Thành công chính của Hyun bị phai mờ dần trong vài năm kế. Bộ phim đầu tiên của anh trong vai diễn viên chính A Millionaire's First Love (viết bởi tiểu thuyết gia mạng Guiyeoni) không thành công về mặt thương mại, và nhạc kịch The Snow Queen, một câu chuyện tình yêu giữa thiên tài toán học chuyển sang làm võ sĩ quyền anh và che chở, nuông chiều cô gái (Sung Yu-ri). Hyun bắt đầu chọn lọc các dự án tinh tế hơn, như The World That They Live In (còn được gọi là Worlds Within) năm 2008, anh và Song Hye-kyo đóng vai các nhà sản xuất truyền hình đang gặp khó khăn TV để tạo ra phim truyền hình xuất sắc trong khi vẫn duy trì mối quan hệ của họ. Sau đó anh đóng vai chính trong I'm Happy, một mối tình lãng mạn giữa một bệnh nhân và y tá (Lee Bo-young) trong một bệnh viện tâm thần, và nó là được chọn làm bộ phim tại Liên hoan phim quốc tế Busan 2008.[2] Vào năm 2009, Hyun đã thu hút được nhiều sự khen ngợi trong vai diễn gangster trong bộ phim Friend, Our Legend.[3][4][5][6][7][8][9]

Sự nổi tiếng của anh bắt ngờ tăng nhanh vào năm 2010 với Secret Garden, hình ảnh của một ông chủ cực kì ngạo mạng và người phụ nữ không một đồng xu dính túi (Ha Ji-won) người luôn mặc bộ đồ bó sát mỗi khi trời mưa.[10][11] Đạo diễn Kim Eun-sook đã mang đến 30% tỉ suất và giành được nhiều quan tâm về trang phục, khẩu hiệu và âm nhạc, Hyun được công nhận tại SBS Drama Awards 2010 và Baeksang Arts Awards 74 cho phần diễn xuất của mình.[12][13] Anh cũng đóng góp vào nhạc phim với "That Man", đạt vị trí thứ nhất trong 8 cổng âm nhạc Hàn Quốc.[14][15][16]

Vào tháng 2 2011 anh bước trên thảm đỏ Liên hoan phim Berlin lần thứ 61 nơi mà hai bộ phim của anh, Come Rain, Come Shine (đạo diễn bởi Lee Yoon-ki) và Late Autumn (đạo diễn bởi Kim Tae-yong) được chiếu.[17][18][19] Anh mô tả sự vinh dự là "niềm hạnh phúc nhất đời mình."[20][21]

Quay ở Seattle, Late Autumn làm lại từ phiên bản tiếng Anh của Lee Man-hee, Hyun đóng vai một người đàn ông có tình cảm với một cô gái vừa mới ra tù (diễn viên Trung Quốc Tang Wei).[22][23][24][25] Nó đã trở thành bộ phim Hàn Quốc ăn khách nhất phát hành ở Trung Quốc, giành được US$9,5 million trong vòng 2 tuần, điều chưa từng có đối với một bộ phim tình cảm.[26] Anh nhận được đánh giá tốt từ tạp chí The Hollywood Reporter.[27]

Vào 7 tháng 3, 2011, Hyun tham gia nghĩa vụ quân sự trong 21 tháng ở Lực lượng Hải quân Hàn Quốc.[28][29][30][31][32][33][34][35][36][37][38] Anh xuất ngũ vào 6 tháng 12, 2012 và nhận được tuyên dương như người lính gương mẫu. Trước các phương tiện truyền thông và hàng ngàn người hâm mộ từ nhiều nước, Hyun đã khóc và cuối chào.[39][40][41][42][43]

Sau khi sát nhập cơ quan cũ AM Entertainment với SM Entertainment,[44] Đại diện của Hyun công bố vào tháng 11 2012 rằng anh và Shin Min-ah đã quyết định rời khỏi và thành lập cơ quan quản lý riêng của họ O& Entertainment.[45] Hyun sau đó giành phần lớn năm 2013 để đóng quảng cáo như một người đại diện sản phẩm,[46][47][48][49] và tổ chức hợp mặt người hâm mộ toàn châu Á.[50]

Về diễn xuất sau khi xuất ngũ, Hyun chọn The Fatal Encounter, phim cổ trang đầu tiên của anh, với vai chính Vua Jeongjo người phải đối mặt với xung đột khốc liệt và âm mưu ám sát trong suốt triều đại của mình. Nó được phát hành vào tháng 4 2014 và thu hút hơn 3 triệu lượt xem.[51][52][53][54][55][56][57] Hyun tiếp tục đóng vai chính trong Hyde, Jekyll, Me, một bộ phim tình cảm lãng mạn 2015 trong vai một chàng trai với chứng rối loạn tâm lý đa nhân cách (lấy cảm hứng từ nhân vật văn học), cả hai người đều yêu một cô gái.[58]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Hyun sinh ra và lớn lên ở Seoul. Anh có một người anh trai. Anh tốt nghiệp Đại học Chung-Ang năm 2004 lĩnh vực Nghiên cứu điện ảnh. Từ anh 2009 anh theo học tại các trường đại học để có bằng thạc sĩ.

Anh đã hẹn hò với nữ diễn viên Hwang Ji-hyun từ 2006-2007.[59]

Vào tháng 8 2009 Hyun xác nhận anh đang hẹn hò với Song Hye-kyo, bạn diễn trong Worlds Within.[60][61][62] Vào tháng 3 2011, chỉ vài giờ sau khi Hyun nhập ngũ, anh và đại diện cơ quan của Song xác nhận tin đồn rằng họ đã chia tay.[63][64]

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai trò Kênh
2003 Bodyguard Kẻ quấy nhiễu KBS2
2004 Nonstop 4 Hyun Bin MBC
Ireland Kang Gook MBC
2005 My Name Is Kim Sam-soon Hyun Jin-heon MBC
Nonstop 5 Khách mời MBC
2006 The Snow Queen Han Tae-woong/Han Deuk-gu KBS2
2008 Worlds Within Jung Ji-oh KBS2
2009 Friend, Our Legend Han Dong-soo MBC
2010 Secret Garden Kim Joo-won SBS
2015 Hyde, Jekyll, Me Gu Seo-jin/Robin SBS

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai trò
2004 Spin Kick Lee Min-gyu
2005 Daddy Long Legs Hyung-joon
2006 A Millionaire's First Love Kang Jae-kyung
2009 I'm Happy Jo Man-soo
2011 Late Autumn Hoon
Come Rain, Come Shine He
2014 The Fatal Encounter Vua Jeongjo

Music video[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ca khúc Ca sĩ
2003 "내탓이죠" Herb
2005 "Memory" Kim Bum-soo
2006 "Hey U" Lemon Tree

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Ghi chú
2010 "Dream in My Heart" Đĩa đơn
2011 "Can't Have You" Friend, Our Legend OST
"That Man" Secret Garden OST

Giải Thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Thể loại Đề cử Kết quả
2004
MBC Entertainment Awards
Giải đặc biệt, thể loại diễn viên truyền hình
Nonstop 4
Đoạt giải
MBC Drama Awards
Diễn viên mới xuất sắc
Ireland
Đoạt giải
2005
41st Baeksang Arts Awards
Diễn viên mới xuất sắc (TV) Đề cử
MBC Drama Awards
Cặp đôi xuất sắc với Kim Sun-a Tên tôi là Kim Sam Soon Đoạt giải
Giải nổi tiếng Đoạt giải
Giải xuất sắc, diễn viên Đoạt giải
2006
42nd Baeksang Arts Awards[65]
Giải diễn viên nổi tiếng (Phim)
A Millionaire's First Love
Đoạt giải
KBS Drama Awards
Cặp đôi xuất sắc với Sung Yu-ri
The Snow Queen
Đoạt giải
Giải nổi tiếng Đoạt giải
Giải bình chọn qua mạng Đoạt giải
Giải xuất sắc, diễn viên Đề cử
2007
43rd Baeksang Arts Awards
Diễn viên xuất sắc (TV) Đề cử
2008
KBS Drama Awards
Giải nổi tiếng
Worlds Within
Đề cử
Giải bình chọn qua mạng Đề cử
Giải xuất sắc, diễn viên phim ngắn Đề cử
2009
MBC Drama Awards
Giải xuất sắc, diễn viên
Friend, Our Legend
Đề cử
2010
SBS Drama Awards
Cặp đôi xuất sắc với Ha Ji-won
Secret Garden
Đoạt giải
Giải nổi tiếng qua mạng Đoạt giải
Top 10 ngôi sao Đoạt giải
Giải thưởng xuất sắc hàng đầu, diễn viên drama đặc biệt Đoạt giải
2011
47th Baeksang Arts Awards[12]
Diễn viên xuất sắc (TV) Đề cử
Giải chính (Daesang) cho TV Đoạt giải
6th Seoul International Drama Awards[66]
Nam diễn viên xuất sắc của Hàn Quốc Đề cử
2014
18th Puchon International Fantastic Film Festival[67]
Giải nhà sản xuất N/A Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Samsoon last episode hangs on hope. Korea JoongAng Daily. ngày 22 tháng 7 năm 2005.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  5. ^ Friends, Lawyers to Hit Small Screen. The Korea Times. ngày 23 tháng 6 năm 2009.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  7. ^ Interview: Hyun Bin - Part 1. 10Asia. ngày 24 tháng 11 năm 2009.
  8. ^ Interview: Hyun Bin - Part 2. 10Asia. ngày 24 tháng 11 năm 2009.
  9. ^ Interview: Hyun Bin - Part 3. 10Asia. ngày 24 tháng 11 năm 2009.
  10. ^ Secret Garden Hyun Bin, Ha Ji-won speak on switching bodies - Part 1. 10Asia. ngày 9 tháng 12 năm 2010.
  11. ^ Secret Garden Hyun Bin, Ha Ji-won speak on switching bodies - Part 2. 10Asia. ngày 9 tháng 12 năm 2010.
  12. ^ a ă Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  13. ^ Hyun Bin, Lee Byung-hun win top prizes at Paeksang. 10Asia. ngày 27 tháng 5 năm 2011.
  14. ^ 현빈, 5일째 8개 음원사이트 1위…롱런하나 (Hyun Bin, first place in 8 music sites for the fifth day...long run?). Nate (bằng Tiếng Hàn). ngày 11 tháng 1 năm 2011.
  15. ^ Focus: Actor Hyun Bin, this man cries. 10Asia. ngày 14 tháng 1 năm 2011.
  16. ^ Success of Secret Garden Continues to Grow. The Chosun Ilbo. ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  17. ^ Hyun Bin emerges as Romeo of the hour. The Korea Times. ngày 15 tháng 2 năm 2011.
  18. ^ Actors Hyun Bin and Lim Soo-jung pose for cameras.... The Korea Times. ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  19. ^ "Director Lee defends pace of Berlin’s sole Asian entry". The Korea Herald. ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  20. ^ Hyun Bin happiest with invitation to Berlin film fest. 10Asia. ngày 20 tháng 1 năm 2011.
  21. ^ Come Rain invited to Berlinale. The Korea Times. ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  22. ^ Hyun Bin, Tang Wei Cast in Korea-US Project. The Korea Times. ngày 5 tháng 11 năm 2009.
  23. ^ Actor Hyun Bin is on the rise in America, too. The Korea Times. ngày 27 tháng 1 năm 2011.
  24. ^ Anticipation builds for Late Autumn debut. Korea JoongAng Daily. ngày 11 tháng 2 năm 2011.
  25. ^ Interview: Actor Hyun Bin. 10Asia. ngày 15 tháng 2 năm 2011.
  26. ^ Late Autumn becomes the all-time highest grossing Korean film in China. Korean Film Biz Zone. ngày 13 tháng 4 năm 2012.
  27. ^ Late Autumn -- Film Review. The Hollywood Reporter. ngày 14 tháng 10 năm 2010.
  28. ^ Heartthrob Hyun Bin Volunteers for Marines. The Chosun Ilbo. ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  29. ^ Hyun Bin to join Marine Corps. Korea JoongAng Daily. ngày 13 tháng 1 năm 2011.
  30. ^ Hyun Bin passes exam for Marine Corps. 10Asia. ngày 19 tháng 1 năm 2011.
  31. ^ Hyun Bin joins Marine Corps. The Korea Times. ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  32. ^ Thousands bid farewell to actor Hyun Bin. 10Asia. ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  33. ^ As actor joins Marines, tears of thousands flow. Korea JoongAng Daily. ngày 8 tháng 3 năm 2011.
  34. ^ Photos of Hyun Bin in military training camp released. 10Asia. ngày 22 tháng 3 năm 2011.
  35. ^ More photos of actor Hyun Bin in training camp revealed. 10Asia. ngày 31 tháng 3 năm 2011.
  36. ^ Photos of actor Hyun Bin into his 3rd week of training revealed. 10Asia. ngày 8 tháng 4 năm 2011.
  37. ^ Hyun Bin to be deployed to NLL. Korea JoongAng Daily. ngày 20 tháng 4 năm 2011.
  38. ^ Hyun Bin fever hits island in Yellow Sea. Korea JoongAng Daily. ngày 22 tháng 4 năm 2011.
  39. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  41. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  42. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  45. ^ Hyun Bin to Set Up His Own Agency With Shin Min Ah. Soompi. ngày 8 tháng 11 năm 2012.
  46. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  49. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  50. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  51. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  52. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  53. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  54. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  55. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  56. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  57. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  58. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  59. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  60. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  61. ^ Hyun and Song Become a Couple. The Korea Times. ngày 5 tháng 8 năm 2009.
  62. ^ Worlds Within stars couple up. Korea JoongAng Daily. ngày 6 tháng 8 năm 2009.
  63. ^ Hyun Bin, Song Hye-kyo Announce Split. The Chosun Ilbo. ngày 9 tháng 3 năm 2011.
  64. ^ Hyun Bin and Song Hye-kyo call it quits. 10Asia. ngày 8 tháng 3 năm 2011.
  65. ^ 42nd Baeksang Awards Nominations + Winners. Twitch Film. ngày 14 tháng 4 năm 2006.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.
  67. ^ Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Lỗi kịch bản: Mô đun cho ra giá trị . Nó cần phải cho ra một bảng xuất khẩu.