Nhân Nguyên Vương hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhân Nguyên vương hậu
Vương hậu Triều Tiên
Vương hậu nhà Triều Tiên
Tại vị 1702 - 1688
Tiền nhiệm Nhân Hiển Vương hậu
Kế nhiệm Tuyên Ý vương hậu
Thông tin chung
Phu quân Triều Tiên Túc Tông
Thân phụ Khánh Ân phủ viện quân Kim Trụ Thần (金柱臣)
Thân mẫu Gia Lâm phủ phu nhân Triệu thị (趙氏)
Sinh 29 tháng 9, năm 1687
Tỉnh Gyeonggi
Mất 26 tháng 3, năm 1757 (69–70 tuổi)
Xương Đức cung
An táng Minh Lăng (明陵), thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi

Nhân Nguyên vương hậu (chữ Hán: 仁元王后; Hangul: 인원왕후, 29 tháng 9, 1687 - 26 tháng 3, 1757), còn gọi Huệ Thuận vương phi (惠順王妃), là Vương hậu thứ 3 của Triều Tiên Túc Tông. Bà xuất thân cao quý hơn vương hậu đầu tiên của Túc Tông là Nhân Kính Vương hậu Kim thị, nhưng lại thua xa người tiền nhiệm trước đó là Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị.

Sau khi được phong làm Vương phi, bà có vai trò lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ Triều Tiên Anh Tổ. Về sau Anh Tổ lên ngôi không thể không kể đến công lao của bà, nên nhà vua tôn kính dâng hiệu Đại vương đại phi (大王大妃), dâng tôn hiệu hơn 10 chữ. Vì thế, bà là Vương hậu của Triều Tiên có thụy hiệu nhiều chữ nhất từng có (30 chữ).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân Nguyên vương hậu sinh ngày 29 tháng 9, năm Túc tông thứ 13 (1687), là con gái của Khánh Ân phủ viện quân Kim Trụ Thần (慶恩府院君金柱臣; 김주신) và Gia Lâm phủ phu nhân Triệu thị ở Lâm Xuyên (嘉林府夫人林川趙氏). Bà thuộc gia tộc Khánh Châu Kim thị (庆州金氏), một dòng họ phồn vinh có thủy tổ xuất xứ từ nước Tân La tên là Kim Át Trí (金阏智).

Bà có 2 anh em trai là Kim Hậu Diễn (金後衍) và Kim Cửu Diễn (金九衍); một người chị gái kết hôn với Quận thủ Lý Đức Lân (郡守李德隣), một em gái kết hôn với Doãn Miễn Giáo (尹勉教).

Quốc mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1702, bà được phong làm Vương phi, sau khi Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị bạo bệnh qua đời. Bà rất nhân từ độ lượng, cử chỉ đoan trang, đối với các người con của Túc Tông vô cùng tình cảm, đặc biệt là Diên Nhưng quân (tức Anh Tổ đại vương). Năm 1713, do cảm mến tính tình hiền huệ, Túc Tông đặc biệt phong hiệu cho bà thành Huệ Thuận vương phi (惠順王妃).

Năm 1720, Túc Tông thăng hà, Cảnh Tông đại vương lên nối ngôi, bà trở thành Vương đại phi (王大妃), gia tôn hiệu thành Huệ Thuận Từ Kính vương đại phi (惠順慈敬大王妃). Khi đó, phái Thiếu Luận (少论派) cực lực phản đối việc Diên Nhưng quân kế thừa vị trí Vương trữ (王储). Cảm thấy sinh mệnh khó bảo toàn, Diên Nhưng quân luôn tìm đến tẩm điện của Đại phi và được bà che trở.

Năm 1724, Diên Nhưng quân kế vị, tức Anh Tổ đại vương, tấn tôn Vương đại phi Kim thị trở thành Đại vương đại phi (大王大妃), dâng tôn hiệu Huệ Thuận Từ Kính Hiến Liệt Đại vương đại phi (献烈惠順慈敬大王大妃), trong thời gian đó còn gia tôn thêm 8 tôn hiệu nữa, mỗi lần đều 2 chữ. Anh Tổ đối với kế mẫu cực kỳ hiếu thuận như vậy, mỗi khi rảnh rỗi đều đến thỉnh an. Đặc biệt lễ mừng thọ đều được Anh Tổ tổ chức long trọng, như thể là sinh mẫu của nhà vua vậy.

Theo Hận Trung lục (恨中录), Đại vương đại phi tính tình ôn hậu cẩn trọng, đoan trang tuyệt thế, xử lý mọi việc ở Nội mệnh phụ đều chu toàn, không ai dám có ý đố kị. Bà khi đó rất yêu quý tôn tử là Trang Hiến Thế tử, dù Anh Tổ đại vương khi ấy đối với Thế tử cực kỳ lãnh đạm nghiêm khắc. Đại vương đại phi có vai trò lớn trong việc bảo bọc Thế tử, giúp Anh Tổ và Thế tử tình cảm cha con không bị rạn nứt.

Năm 1757, ngày 26 tháng 3, Đại vương đại phi lâm bệnh nặng và qua đời ở Cảnh Phúc điện trong Xương Đức cung, hưởng thọ 70 tuổi. Bà được chôn cất tại tỉnh Kinh Kì, gần với mộ phần của Túc Tông đại vương và Nhân Hiển Vương hậu trong Minh lăng (明陵).

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hyesun Jagyeong Heonryeol Gwangseon Hyeonik Kangseong Jeongdeok Suchang Yeongbok Yunghwa Hwijeong Jeongwoon Jeongui Jangmok Inwon Wanghu.
  • 혜순자경헌렬광선현익강성정덕수창영복융화휘정정운정의장목인원왕후.
  • 惠顺慈敬献烈光宣显翼康圣贞德寿昌永福隆化徽精正运定懿章穆仁元王后.
  • Huệ Thuận Từ Kính Hiển Liệt Quang Tuyên Hiển Dực Khang Thánh Trinh Đức Thọ Xương Vĩnh Phúc Long Hóa Huy Tinh Chính Vận Định Ý Chương Mục Nhân Nguyên Vương hậu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]