Hiến Kính Vương hậu họ Hồng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiến Kính Vương hậu họ Hồng
Hangul 헌경왕후
Hanja
Romaja quốc ngữ Heongyeong-wanghu
McCune–Reischauer Hŏn'gyŏng-wanghu
Hangul 혜경궁 홍씨
Hanja 惠慶宮洪氏
Romaja quốc ngữ Hyegyeonggung Hong-ssi
McCune–Reischauer Hyegyŏnggung Hong-ssi

Hiến Kính Vương hậu (chữ Hán: 獻敬王后, Hangul: 헌경왕후, 6 tháng 8, 173513 tháng 1, 1816), thường gọi là Huệ Khánh cung Hồng thị (惠慶宮洪氏) hay Huệ tần (惠嬪), là Vương phi của Trang Hiến Thế tử Lý Huyên và là mẫu thân của Triều Tiên Chính Tổ Lý Toán, vị Quốc vương thứ 22 của nhà Triều Tiên.

Bà đã tận mắt chứng kiến cha chồng xử tử phu quân của mình. Sau đó bà viết lại thành cuốn hồi ký Hận trung lục (한중록)[1][2][3].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến Kính vương hậu sinh ra vào ngày 6 tháng 8, năm 1735 tại phường Bàn Tùng (盤松坊), là con gái của Vĩnh Phong phủ viện quân Hồng Phụng Hán (永豐府院君洪鳳漢) và Hàn Sơn phủ phu nhân họ Lý (贈韓山府夫人李氏). Theo dòng dõi, bà là hậu duệ của Trinh Minh công chúa (貞明公主), con gái lớn của Triều Tiên Tuyên Tổ, vì tổ phụ của bà là Hồng Vạn Dung (洪萬容) là con trưởng của công chúa.

Năm 1744, ngày 11 tháng 1, Hồng thị vượt qua Tam giản trạch (三揀擇), được gả cho Vương Thế tử Lý Huyên và lập vị Thế tử tần (世子嬪).

Năm 1750, bà hạ sinh được Ý Chiêu Thế tôn (懿昭世孫), nhưng thế tôn chết yểu khi mới 2 tuổi. Năm 1752, lần này bà lại hạ sinh được con trai Lý Toán (李祘), người sau này là Triều Tiên Chính Tổ. Sau đó, bà còn hạ sinh thêm Thanh Diên quận chúa (清衍郡主) và Thanh Tuyền quận chúa (清璿郡主)[4].

Năm 1762, Trang Hiến Thế tử qua đời nên bà không còn là Thế tử tần nữa, bà được gọi là Huệ tần (惠嬪, Hyebin).

Năm 1776, Chính Tổ lên ngôi kế vị với tư cách là con trai của Hiếu Chương Thế tửHiếu Thuần Hiền tần Triệu thị, vì vậy Chính Tổ phong mẫu thân là Huệ Khánh cung (惠慶宮), chỉ đứng sau Trinh Thuần Vương hậu lúc bấy giờ là Vương đại phi. Để nâng địa vị của thân mẫu, Chính Tổ nhiều lần gia tôn huy hiệu cho bà, dần dần đầy đủ là Hiếu Khang Từ Hi Trinh Tuyên Huy Mục Huệ Khánh cung (孝康慈禧貞宣徽穆惠慶宮).

Năm 1815, dưới triều đại của cháu bà, Triều Tiên Thuần Tổ, bà qua đời tại Xương Khánh cung, Cảnh Xuân điện (昌慶宮景春殿), hưởng thọ thọ 81 tuổi. Thụy hiệu của bà tôn xưng là Hiến Kính (獻敬), toàn xưng Hiếu Khang Từ Hi Trinh Tuyên Huy Mục Hiến Kính Huệ tần (孝康慈禧貞宣徽穆獻敬惠嬪). Triều Tiên Triết Tông tôn thêm thụy hiệu Dụ Tĩnh (裕靖).

Về sau, Triều Tiên Cao Tông truy phong cho Huệ tần Hồng thị là Hiến Kính Vương hậu (獻敬王后). Sau truy tôn lại là Hiến Kính Ý Hoàng hậu (獻敬懿皇后), toàn xưng Hiếu Khang Từ Hi Trinh Tuyên Huy Mục Dụ Tĩnh Nhân Triết Khải Thánh Hiến Kính Ý hoàng hậu (孝康慈禧貞宣徽穆裕靖仁哲啓聖獻敬懿皇后).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Byun, Eun-mi (ngày 3 tháng 2 năm 2013). “The annals of the Joseon princesses.”. The Gachon Herald. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ Kim Haboush, JaHyun. “The Memoirs of Lady Hyegyong: The Autobiographical Writings of a Crown Princess of Eighteenth-Century Korea”. Amazon.com. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ “사도세자 죽음 담은 '한중록'의 진실은”. Hankook Ilbo (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 19 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  4. ^ Sau này, Triều Tiên Cao Tông truy tặng vị là Công chúa