Hoàng hậu Minh Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Thành Hoàng hậu
明成皇后
Hoàng hậu Hàn Quốc
Vương hậu nhà Triều Tiên
Tại vị 20 tháng 3 năm 18668 tháng 10, 1895 (29 năm, 202 ngày)
Tiền nhiệm Triết Nhân Vương hậu
Kế nhiệm Không có
Vương hậu cuối cùng của Triều Tiên
Thông tin chung
Phối ngẫu Triều Tiên Cao Tông
Hậu duệ Triều Tiên Thuần Tông
Thụy hiệu Hiếu Từ Nguyên Thánh Chính Hóa Hợp Thiên Hồng Công Thành Đức Minh Thành Thái hoàng hậu
孝慈元聖正化合天洪功誠德明成太皇后
효자원성정화합천홍공성덕명성태황후
Thân phụ Li Thành phủ viện quân Mẫn Trí Lộc
Thân mẫu Hàn Xương phủ phu nhân Lý thị
Sinh 19 tháng 10, 1851(1851-10-19)
Li Châu, Kinh Kỳ đạo
Mất 8 tháng 10, 1895 (43 tuổi)
Cảnh Phúc Cung
An táng Hồng lăng (洪陵)
Minh Thành hoàng hậu
Hangul 명성황후
Hanja 明成皇后
Romaja quốc ngữ Myeongseong Hwanghu
McCune–Reischauer Myŏngsŏng Hwanghu

Minh Thành hoàng hậu (chữ Hán: 明成皇后; Hangul: 명성황후; 19 tháng 10, 1851 - 8 tháng 10, 1895), còn được biết đến như Minh Thành Thái hoàng hậu (明成太皇后) hay Mẫn phi (閔妃), là Vương hậu của Triều Tiên Cao Tông và là Vương hậu cuối cùng của nhà Triều Tiên thời kỳ Vương quốc.

Sau khi Triều Tiên Cao Tông xưng Hoàng đế của Đế quốc Đại Hàn, vào năm 1902, bà được truy phong là Hoàng hậu.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất thân từ Ly Hưng Mẫn thị (驪興閔氏), một gia tộc rất danh giá trong triều dài lịch sử Hàn Quốc, Minh Thành hoàng hậu là con gái của Li Thành phủ viện quân Mẫn Trí Lộc (骊城府院君闵致禄) và Hàn Xương phủ phu nhân Lý thị (韓昌府夫人李氏). Theo một số nguồn, tên thật của bà là Mẫn Tư Anh (閔茲暎; 민자영).

Sau khi Triều Tiên Triết Tông qua đời không có người thừa tự, Minh Thuần đại phi vợ góa của Triết Tông là người của An Đông Kim thị hiện đang nắm quyền thông qua quyết định chọn một người trị vì Vương thất Triều Tiên. Mùa thu năm 1864, con trai thứ hai của Hưng Tuyên Đại Viện Quân được chọn làm người nối ngôi, trở thành Triều Tiên Cao Tông.

Khi Cao Tông được 15 tuổi, Vương thất quyết định chọn cho ông một Vương phi để củng cố quyền lực, Hưng Tuyên Đại Viện Quân tìm kiếm một tiểu thư ít thân nhân để không làm chi phối quyền lực Vương thất. Thông qua Ly Hưng Phủ Đại phu nhân (骊兴府大夫人; 여흥부대부인), vợ của Hưng Tuyên quân và là mẹ của Cao Tông, cũng là một người trong gia tộc họ Mẫn, triều đình đã quyết định chọn con gái của Mẫn Trí Lộc trở thành Vương phi.

Qua một cuộc tuyển chọn và một loạt những nghi thức rườm rà, phức tạp, ngày 20 tháng 3 năm 1866, bà được chính thức sắc phong Vương phi của Triều Tiên, trở thành Quốc mẫu khi bà 16 mới tuổi.

Can thiệp chính sự[sửa | sửa mã nguồn]

Vương phi Mẫn thị đăng quang vào giai đoạn cuối nhà Triều Tiên, khi đất nước đang trong cảnh bên ngoài chịu áp lực từ Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và các nước phương Tây, bên trong ẩn chứa nhiều hiểm họa và rối ren về chính trị và bị chi phối bởi nhiều thế lực. Tuy nhiên, vị Vương phi này đã chứng tỏ cho mọi người thấy mình là một bậc quốc mẫu hết sức đặc biệt trong lịch sử của Hàn Quốc.

Các Vương phi trước đây thường hay buông rèm nhiếp chính, nắm giữ quyền lực thay cho con hoặc cháu của mình, nhưng với Mẫn thị thì khác. Bà là người luôn đi đầu trong xúc tiến cải cách, mở cửa bằng trí tuệ và sự sáng suốt của mình. Có tài năng ngoại giao xuất chúng, bà đã trở thành một nhà chính trị có chính sách bảo vệ quyền tự chủ của quốc gia thông qua việc bắt tay với các cường quốc trên thế giới.

Tới nay, những ghi chép về Mẫn Vương phi của nhà Triều Tiên vẫn còn được lưu lại ở nhiều nơi trên thế giới. Isabella Bird Bishop, nhà địa lý học và là Hội viên hội Địa lý Hoàng thất Anh Quốc từng có thời gian sinh sống ở Triều Tiên vào giai đoạn cuối, đã miêu tả Mẫn thị là "người có cặp mắt lạnh và sắc sảo, để lại ấn tượng về trí tuệ và tài giỏi hơn người".

William F. Sands, bí thư tòa công sứ Mỹ thì nhìn nhận rằng: "Bà là một nữ chính trị gia vĩ đại vượt lên trên thời đại và giới hạn của một người phụ nữ".

Còn Miura, công sứ người Nhật cũng đã có những ghi chép cho thấy sự cảm phục và dè chừng đối với bà như: "Khi tiếp kiến vua, tôi thấy hoàng hậu khẽ đến bên nói giúp vua, tỏ ra là người có nhiều tài năng, không hề sơ suất". Tuy nhiên, trên thực tế, Vương phi Mẫn thị không phải là người ngay từ đầu đã tham dự vào việc triều chính. Dù đã kết hôn với bà, nhưng vua Cao Tông vốn sủng ái cung nữ mà ít gần gũi bà, nên bà thường lấy việc đọc sách làm thú vui cho bớt cô đơn. Chính những kiến thức thu được qua những cuốn sách này, về sau đã trở thành bước đệm để bà tham gia vào việc triều chính giúp vua cai quản đất nước.

Mẫn Vương phi đương thời sinh được 2 người con trai, nhưng cả hai đều sớm qua đời. Hưng Tuyên Đại Viện Quân đã gây ra mâu thuẫn khi sai người kê thuốc sai cho các Vương tử và từ đó, Mẫn thị đã quay lưng, chống lại sự độc đoán, can thiệp cả vào việc nước lẫn việc nhà của người cha chồng này. Hơn nữa, vào giai đoạn này, Hưng Tuyên Đại Viện Quân cũng đang làm lung lạc lòng dân bởi nhiều quyết định không thỏa đáng, như chính sách bế quan tỏa cảng, bài xích nước ngoài hay việc xây sửa lại Cảnh Phúc Cung.

Năm 1873, nhân có bản tấu của viên quan là Thôi Ích Huyễn (崔益鉉) lên án các chính sách và đường lối sai trái của Hưng Tuyên Đại Viện Quân, vua Cao Tông và Vương phi Mẫn thị đã tuyên bố sẽ trực tiếp đứng ra giải quyết việc triều chính, rút bỏ hoàn toàn quyền lực của cha mình.

Được làm chủ trong mọi việc, Cao Tông đã bỏ chính sách đóng cửa trước đây của Hưng Tuyên Đại Viện Quân, lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản và lần lượt tiếp đó là các nước lớn ở phương Tây. Tuy nhiên, tình hình chính sự ngày càng rối ren bởi những mâu thuẫn với thế lực cũ, sự đối lập với cha là Hưng Tuyên Đại Viện Quân, cùng với mối đe dọa xâm chiếm của Nhật Bản và các cường quốc phương Tây.

Trong bối cảnh đó, năm 1882 đã xảy ra cuộc nổi dậy của quân đội gọi là sự kiện Nhâm Ngọ quân loạn (壬午軍亂), thể hiện sự bất mãn của lực lượng binh sĩ đối với quân đội theo hình thức mới du nhập vào từ phương Tây. Mẫn thị Vương phi, bấy giờ phải đối đầu trước nhiều khó khăn đến mức phải rời khỏi cung để lánh nạn. Nhưng chính trong tình cảnh ấy, bà đã phát huy được khả năng ngoại giao sắc sảo, nhanh nhẹn của mình, nhờ được nhà Thanh hỗ trợ giành lại chính quyền.

Không chỉ có thế, sau sự kiện chiếm đảo Geomun của Anh vào năm 1885, Mẫn thị cũng đã cử cố vấn ngoại giao người Đức là Paul Georg von Möllendorff sang Nhật Bản hiệp thương với Anh để giải quyết vấn đề.

Năm 1894, trải qua các cuộc nổi dậy của phong trào nông dân Đông Học (東學), qua cuộc chiến giữa nhà Thanh (Trung Quốc) và Nhật, người Nhật ngày càng can thiệp sâu hơn vào tình hình chính trị của Triều Tiên. Để ngăn chặn dã tâm xâm chiếm của Nhật, Vương phi Mẫn thị đã chọn chính sách thân Nga, thể hiện rõ ý chí đối đầu với Nhật.

Ất Mùi sự biến[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỉ 19 là giai đoạn xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giành lãnh thổ của các nước lớn trên thế giới. Một nước nhỏ như Triều Tiên thời bấy giờ chỉ còn cách tận dụng sự chia tách của các nước lớn này. Để làm được điều đó, đòi hỏi người lãnh đạo phải có một năng lực hoạt động chính trị hết sức sắc bén, gây dựng được thanh thế cho quốc gia.

Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Vương phi Mẫn thị đã luôn tìm kiếm đường đi nước bước, đứng ra định hướng mọi việc chính sự quốc gia. Nhận thấy bà là vật cản lớn nhất trong cuộc xâm chiếm Triều Tiên của mình, đế quốc Nhật đã cho người đột nhập vào cung sát hại bà, gây nên Ất Mùi sự biến (乙未事變).

Định mệnh đã xảy ra đối với bà, ngày 8 tháng 10, 1895, Vương phi Mẫn thị bị một thích khách Nhật ám sát ngay khi bà đang ở tại Cảnh Phúc Cung. Trong nỗi sầu khổ vì khóc thương nhớ vợ của Cao Tông, Thái tử Lý Chước đã đưa vua cha đến trú ẩn tại Đại sứ quán Nga. Sau khi đẩy lùi ách đô hộ của người Nhật ra khỏi bờ cõi đất nước, vua Cao Tông đã tái khẳng định nền độc lập của vương quốc bằng cách xưng là Hoàng đế của Đại Hàn đế quốc. Ngay từ lúc đó, Mẫn thị được biết đến dưới cái tên là Minh Thành Hoàng hậu (명성황후; Empress Myeongseong).

Mặc dù Minh Thành hoàng hậu đã ngã xuống vì nền độc lập của vương quốc Triều Tiên, song tinh thần quật cường chiến đấu của bà vẫn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ tương lai của Triều Tiên, tinh thần của một vị Vương phi đã làm lay động đến người dân Triều Tiên cả trăm năm sau ngày mất của bà.

Việc Vương phi bị thế lực bên ngoài giết hại đã khiến tình hình trong nước sôi sục, xuất hiện nhiều hoạt động đòi trả thù rửa hận, dấy lên một phong trào chống Nhật của Nghĩa binh năm Ất Mùi, mà sau này nó được tiếp nối, phát triển thành phong trào vận động độc lập của Hàn Quốc.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên phim Năm sản xuất Diễn viên
Đại viện quân dữ Mẫn phi
《大院君與閔妃》
1959 Hoàng Trinh Thuận (황정순)
Thanh Nhật chiến tranh dữ nữ kiệt Mẫn phi
《清日戰爭與女杰閔妃]]》
1964 Thôi Ngân Cơ (최은희)
Cảnh Phúc cung đích nữ nhân môn
《景福宮的女人們》
1971 Doãn Tĩnh Cơ (윤정희)
Tam Nhật thiên hạ
《三日天下》
1973 Đô Cầm Phong (도금봉)
Hàn bán đảo
《韓半島》
2006 Khương Thụ Diên (강수연)
Tượng yên hoa Tượng hồ điệp
《像煙花像蝴蝶》
2009 Tú Ái (수애)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]