Hưng Tuyên Đại Viện Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hưng Tuyên Đại Viện Quân
興宣大院君
Vương phụ Triều Tiên
이하응 초상.jpg
Nhiếp chính nhà Triều Tiên
Giai đoạn 13 tháng 12, năm 186331 tháng 10, năm 1873 (9 năm, 322 ngày)
cùng với Thần Trinh Vương hậu
Tiền nhiệm Triều Tiên Triết Tông
Kế nhiệm Minh Thành hoàng hậu
Thông tin chung
Thê thiếp Thuần Mục đại viện phi Mẫn thị
Tên đầy đủ Lý Thị Ứng (李昰應)
Thụy hiệu Hưng Tuyên Hiến Ý đại viện vương
興宣獻懿大院王
Triều đại Nhà Triều Tiên
Thân phụ Nam Diên quân Lý Cầu
Thân mẫu Li Hưng quận phu nhân Mẫn thị
Sinh 21 tháng 12, 1820(1820-12-21)
Mất 22 tháng 2, 1898 (77 tuổi)
Hưng Tuyên Đại Viện Quân
Hangul 흥선대원군
Hanja 興宣大院君
Romaja quốc ngữ Heungseon Daewongun
McCune–Reischauer Hŭngsŏn Taewŏn'gun
Bút danh
Hangul 석파
Hanja 石坡
Romaja quốc ngữ Seokpa
McCune–Reischauer Sŏkp'a
Tên khai sinh
Hangul 이하응
Hanja 李昰應
Romaja quốc ngữ Yi Ha-eung
McCune–Reischauer Yi Ha-ŭng
Biểu tự
Hangul 시백
Hanja 時伯
Romaja quốc ngữ Sibaek
McCune–Reischauer Sibaek

Hưng Tuyên Đại Viện Quân (chữ Hán: 興宣大院君; Hangul: 흥선대원군, 21 tháng 12, 1820 - 22 tháng 2, 1898) là một nhà chính trị của nhà Triều Tiên. Ông là quan nhiếp chính của nhà Triều Tiên trong giai đoạn (1863 - 1874) với thân phận là cha của Triều Tiên Cao Tông. Đương thời ông ở trong Vân Hiện cung (雲峴宮), nên lúc còn sống ông được gọi là Vân Hiện quân (雲峴君; 운현군).

Danh hiệu Đại viện quân (대원군) là danh vị dành cho thân phụ của các Triều Tiên quốc vương mà chưa từng làm Quốc vương, trong lịch sử Hàn Quốc đã có 3 vị Đại viện quân, nhưng vì sự ảnh hưởng quá lớn của Hưng Tuyên đại viện quân mà cụm từ này thường ám chỉ đến ông.

Trong suốt thời kì lịch sử cuối cùng của chế độ quân chủ Triều Tiên, Hưng Tuyên đại viện quân được biết đến vì sự ảnh hưởng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của mình, đàn áp Thiên Chúa giáo và những cuộc đàn áp tàn bạo với người Tây Dương khi bước chân lên lãnh thổ Triều Tiên[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hưng Tuyên Đại Viện Quân tên thật là Lý Thị Ứng (李昰應), biểu tự Thời Bá (時伯), hiệu Thạch Pha (石坡) và Hải Đông cư sĩ (海東居士), sinh vào ngày 21 tháng 12 năm 1820 tại Hán Thành, là con trai thứ 4 của Nam Diên quân Lý Cầu [李球], hậu duệ đời thứ 7 của Lân Bình đại quân (麟坪大君) - con trai thứ 3 của Triều Tiên Nhân Tổ. Gia tộc họ Lý của ông được gọi theo nhánh là Toàn Châu Lý thị (全州李氏; 전주이씨), có thế lực ở Toàn Châu.

Thân mẫu của ông là Li Hưng quận phu nhân Mẫn thị (驪興郡夫人閔氏), xuất thân từ gia tộc danh giá Ly Hưng Mẫn thị (驪興閔氏), nguyên quán ở Ly Châu, một gia tộc tương truyền là hậu duệ của Mẫn Tổn (闵损), đệ tử của Khổng Tử.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Conroy, Hilary. The Japanese Seizure of Korea, 1868-1910: A Study of Realism and Idealism in International Relations. Philadelphia: University of Pennsylvania Press, 1960.