Nguyễn Trọng Hợp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ảnh chân dung quan đại thần Nguyễn Trọng Hợp.

Nguyễn Tuyên[1] (chữ Hán: 阮瑄, 1834 - 1902), tự Trọng Hợp (仲合), hiệu Kim Giang (金江), là một quan đại thần triều Nguyễn,làm quan trải bảy đời vua từ Tự Đức đến Thành Thái.

Ông là vị quan khoa bảng, thi đỗ Tiến sĩ, thăng tiến qua tất cả cấp bậc quan chế triều Nguyễn, có thời gian làm quan Kinh lược, rồi quay về Huế làm Đệ nhị phụ chính Đại thần, chức vụ cao nhất trong triều đình dưới thời Pháp thuộc.

Nguồn gốc và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Trọng Hợp quê ở xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội, nay là phường Đại Kim quận Hoàng Mai Hà Nội, thi đỗ Cử nhân tại trường Hà Nội, khoa Mậu Ngọ (1858) Tự Đức thứ 11.

Ông là con của Nguyễn Cư (1798-1852)[2], đỗ Cử nhân năm Tân Mão (1831)[cần dẫn nguồn], làm quan đến chức Ngự sĩ. Nguyễn Trọng Hợp là cháu bốn đời của Nguyễn Công Thái (1684-1758), đỗ tiến sĩ khoa Ất Vị (1715), làm quan đến chức Tể tướng (năm lần)[3].

Nguyễn Trọng Hợp là học trò của cụ Đông Tác Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý. Sau khi đỗ cử nhân (1858) Nguyễn Trọng Hợp được Tùng Thiện Vương, một ông hoàng con của vua Minh Mạng, đem về nuôi dạy trong nhà[2][4] cho đến khi đi làm quan.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Trọng Hợp đỗ Tiến sĩ khóa Ất Sửu (1865), làm quan dưới bảy đời vua từ Tự Đức đến Thành Thái, với chức từ tri phủ đến chức kinh lược Bắc Kỳ (1886), Thượng thư bộ Lại (1887), Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ, Phụ chánh vua Thành Thái (1889-1897).

Con đường quan lộ của ông khá suôn sẻ, Nguyễn Trọng Hợp làm Tri phủ Xuân Trường rồi Phủ doãn Thừa Thiên[2][5].

Năm 1873 khi Francis Garnier vừa chiếm đóng thành Hà Nội, ông được vua Tự Đức phái ra Bắc để cùng Trần Đình Túc và Bùi Ân Niên lo việc chiêu tập quân dân để đối phó với quân đội chiếm đóng[5][6]. Lúc quân Pháp đánh chiếm Hưng Yên, Nam Định và mấy tỉnh khác vua sai Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp đi bàn hội với Pháp ở Hà Nội[7][8]. Trong khi đang thương thuyết thì Francis Garnier bỏ ra ngoài thành đi đánh nhau với quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc rồi bị giết ở Cầu Giấy[9].

Garnier chết, quân tướng Pháp mất hết nhuệ khí, nhưng bề ngoài vẫn muốn giữ thể diện, nên đã bầu ra một viên quan hai lo việc đàm phán. Trần Đình Túc cho là người Pháp thôi tranh chiếm, sợ mất hòa khí, liền sai Nguyễn Trọng Hợp và Trương Gia Hội đến nơi quân thứ yêu cầu Hoàng Tá ViêmTôn Thất Thuyết án binh bất động và rút cánh quân của Lưu Vĩnh Phúc về vùng biên giới[10].

Sau Hòa ước Giáp Tuất (1874) Nguyễn Trọng Hợp được bổ ra làm Tổng đốc Định-Yên (tức Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên ngày nay)[11]. Theo Đại Nam thực lục từ tháng 12 năm Quý Dậu (tức đầu năm 1874), Nguyễn Trọng Hợp đang giữ chức Tuần phủ Hà Nội, cùng Trần Đình Túc đang là Tổng đốc Định-Yên, đổi chức cho nhau để Trọng Hợp về Định-Yên, còn Đình Túc về Hà-Ninh[12]. Trong bảy năm ông có những chính sách như: giảm thuế, cho dân quê được giải ngũ để về làm ruộng[5][13]. Ông phản đối chuyện giao cho các "công ty" độc quyền thu thuế v.v... Trong mấy năm ấy Nguyễn Trọng Hơp lên rất nhiều tấu sớ xin mở rộng thông thương buôn bán, học hỏi khoa học kỹ thuật của nước ngoài, gửi sứ bộ đến các nước ngoài và đặt lãnh sự trong Việt Nam[13].

Năm 1881, Nguyễn Trọng Hợp được vào kinh giữ chức Tham tri bộ Lại[14], rồi Thượng thư bộ Lại và Thương bạc đại thần[15]. Trong khi ấy chính quyền nước Pháp, dưới thời các thủ tướng Jules FerryLéon Gambetta, nhấn mạnh chính sách đô hộ, và trong đó đánh chiếm Việt Nam là một mục tiêu rõ rệt[16]. Cho nên Henri Rivière với 500 quân lính đánh chiếm thành Hà Nội ngày 25 tháng 4 năm 1882, rồi mỏ Hồng Gai tỉnh Quảng Yên, thành Nam Định[7][17] (27 tháng 3 năm 1883)[18].

Sau khi Henri Rivière bị giết, quân Pháp đem sang Việt Nam với 4.000 lính và bắt đầu tấn công cửa biển Thuận An (18 tháng 8 năm 1883). Triều đình Huế lúng túng vì vua Tự Đức mới mất (19 tháng 7 năm 1883). Vua Hiệp Hòa vừa lên ngôi, triều đình sai Trần Đình Túc làm Khâm sai toàn quyền, Nguyễn Trọng Hợp làm phó dự hòa đàm, sử gọi là Hòa ước năm Quý Mùi (1833) vào ngày 20 tháng 8 năm 1883. Ngày 22 tháng 8, Harmand đưa ra bản hiệp ước và đe dọa tiếp tục gây hấn. Nguyễn Trọng Hợp cùng Chánh sứ Trần Đình Túc thêm bốn chữ "kể cả Trung quốc"[4]hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1883). Hiệp ước này thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, đồng thời chấp nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc KỳTrung Kỳ, chính thức chấm dứt nền độc lập của Việt Nam[19].

Ký xong, vua Hiệp Hoà lại cử Khâm sai Nguyễn Trọng Hợp ra Bắc vì ở vùng này quân Pháp và quân Thanh vẫn còn giao chiến. Nguyễn Trọng Hợp xin vua triệu Hoàng Tá Viêm, đang kháng cự quân Pháp ở vùng Sơn-Hưng-Tuyên, về kinh và khéo léo [cần dẫn nguồn] (nhận định chủ quan của người viết)

để Pháp tự lo liệu với quân nhà Thanh, theo như bốn chữ đã nói trên.

Lịch sử Pháp cho ta biết rằng 16 tháng sau (tháng 3-1885) cuộc thất bại của quân đội Pháp ở Lạng Sơn (cũng vì bốn chữ ấy) lật đổ chính phủ Jules Ferry và làm xáo trộn đường lối chính trị nước Pháp đến mức mà nhà sử học Pháp Charles Fourniau viết[20] (tạm dịch): "Ta có thể nói rằng cái chính trị của Cộng hòa đệ Tam Pháp mất tiêu ở Lạng Sơn giống như cái chết của Cộng hòa đệ Tứ ở Điện Biên Phủ?" [cần dẫn nguồn].

Lúc vua Hiệp Hòa mất (23-11-1883) Nguyễn Trọng Hợp còn ở ngoài Bắc. Sau khi vua Kiến Phúc lên ngôi (2-12-1883), Nguyễn Trọng Hợp về kinh đem việc thương thuyết không kết quả xin giải chức đợi tội[21]. Tháng 2 năm 1884 ông về Thanh Hóa hạ chức xuống Sơn phòng phó sứ cho đến tháng 8 năm 1884. Sau đó ông làm Tổng đốc Sơn-Hưng cho đến tháng 4 năm 1886 [22]. Cùng lúc ấy Hiệp ước Patenôtre (6-6-1884) được ký, và một tháng sau vua Kiến Phúc mất (31-7-1884), vua Hàm Nghi lên ngôi (2-8-1884). Nguyễn Trọng Hợp không có mặt ở kinh thành lúc cuộc tấn công sứ quán Pháp thất bại (5-7-1885). Sau đó phong trào Cần Vương nổi lên. Khi Đồng Khánh lên ngôi (19-9-1885) vua gọi Nguyễn Hữu Độ về kinh và đưa Nguyễn Trọng Hợp lên thay Nguyễn Hữu Độ với chức Kinh lược Bắc Kỳ.

Thời gian này, phong trào Cần Vương kháng Pháp, vốn do vua Hàm NghiTôn Thất Thuyết khởi xướng, vẫn còn nổ ra ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại vùng Bãi Sậy khi đó thuộc Hải Dương, quan Tán tương quân vụ là Nguyễn Thiện Thuật và Đề đốc Tạ Hiện còn kháng cự người Pháp quyết liệt. Nguyễn Trọng Hợp, lấy danh nghĩa là quyền kinh lược sứ Bắc Kỳ, đã sai quyền Tổng đốc Hải Dương là Hoàng Cao Khải làm chức Tiểu phủ sứ đi đánh dẹp Khởi nghĩa Bãi Sậy[23].

Nguyễn Trọng Hợp vẫn giữ chức kinh lược sứ Bắc Kỳ khi Paul Bert thay de Courcy làm Khâm sứ (8-4-1886). Paul Bert là một nhà động vật học, sinh lý học và chính khách có tiếng, một nhân vật trong phe Cộng hòa, với một tư tưởng là phải truyền bá "Ánh sáng Tiến bộ" để lấy lại thể cường quốc của nước Pháp. Ông trước kia giữ chức Bộ trưởng Giáo dục lại rất khâm phục hệ thống giáo dục Nho giáo[24]. Tuy nhiên, do hấp tấp, Paul Bert làm nhiều lầm lỗi, thái độ ông trong những việc xây dựng cảng Hải Phòng, dự án đường sắt Hà Nội-Lạng Sơn khác hẳn mấy người Khâm sứ trước[cần dẫn nguồn].

Năm sau (1887)[25] vua Đồng Khánh gọi Nguyễn Trọng Hợp về kinh với chức Thượng thư bộ Lại, Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ. Nhưng vì chuyện bất đồng không rõ, Nguyễn Trọng Hợp đệ đơn xin về nghỉ. Vua không chấp nhận, Nguyễn Trọng Hợp bèn cáo ốm rồi về quê. Tuy thế ông vẫn tiếp tục làm việc dến lúc Đồng Khánh mất (28-1-1889).

Vua Đồng Khánh mất, triều đình cử Nguyễn Trọng Hợp cùng Trương Quang Đán lên làm Đệ nhị phụ chính đại thần cho vua Thành Thái, Đệ nhất phụ chính là Tuy Lý Vương Miên Trinh, Đệ Tam phụ chính là Nguyễn Thân. Theo Paul Doumer, Đệ nhất phụ chính đã già và không có quyền hành, 2 vị đệ nhị và đệ tam mới là người đứng đầu triều đình.[23].

Năm 1894, Nguyễn Trọng Hợp là thanh viên trong sứ đoàn an Nam sang Paris để thay mặt vua An Nam chào tổng thống Pháp. Ông đã ca ngợi Ba Lê, Thủ đô Pháp quốc trong tập thơ 36 bài vịnh.[26]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn Kim Giang thi tập gồm lại 400 bài thơ nôm của Nguyễn Trọng Hợp. Trong có một bài mà Vũ Tuấn Sán ở Viện nghiên cứu Hán Nôm cho là "hiếm thấy nếu không phải là duy nhất" [27]:

Nay vâng mệnh triều đình đi sứ
Sắc cầm tay khó xử muôn phần
Không đi mang tội khi quân
Đi thì mang tiếng phản dân cầu hòa
Nếu biết trước ở nhà làm ruộng
Còn hơn làm ông thượng ông quan
Mấy lời nhắn nhủ thế gian
Học để mà biết làm quan đừng màng

Khi sang Pháp, ông sáng tác tập Tây tra thi thảo, đã được in và dịch ra tiếng Pháp, dưới đây là đoạn thơ đầu tiên:

Ca La lập nên quốc gia hùng cường trên nền tảng vững chãi
Hơn ngàn năm nay đất nước tươi đẹp phồn thịnh đứng giữa trời Âu
Đoàn đi sứ tới đây gặp dịp mùa xuân ấm áp, thoáng đãng
Xe vừa dừng hứng khởi trào dâng, liền làm bài phú ca ngợi đất nước này[28]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá về Nguyễn Trọng Hợp báo Hà Nội Mới điện tử có viết: "...Nguyễn Trọng Hợp làm quan vào giai đoạn thực dân Pháp đã đánh chiếm xong miền Bắc và đặt ách thống trị lên toàn đất nước ta. Trong suốt cuộc đời làm quan, tuy không thuộc phe chủ chiến song theo nhìn nhận của các nhà sử học Nguyễn Trọng Hợp là ông quan yêu nước, thương dân, đồng thời là một nhà văn hóa có những cống hiến đáng kể về phương diện sử học, văn học..."[29].

" Ông có một thái độ cởi mở đối với một số nhà Nho đường thời ": đó là cái nhìn nhận của nghiên cứu viên Phạm Văn Thám [cần dẫn nguồn].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Nam thực lục-chính biên, tập 7, đệ tứ kỷ, quyển XXXI, trang 915.
  2. ^ a ă â Xem "Đại Nam chính biên liệt truyện" - "Nhị tập", Quyển 30 Tập 20 tr. 119
  3. ^ Tạp chí Xưa và Nay, số 223 tháng 11-2004, tr. VI và VIII
  4. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Nguyễn Đắc Xuân
  5. ^ a ă â Xem Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp, tr.34-41, tác giả Nguyễn Văn Huyến
  6. ^ Đại Nam thực lục-chính biên, tập 7, đệ tứ kỷ, quyển XLIX, trang 1415.
  7. ^ a ă Xem Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp, tr. 42-53
  8. ^ Đại Nam thực lục-chính biên, tập 7, đệ tứ kỷ, quyển XLIX, trang 1421.
  9. ^ Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Cận kim thời đại – Nhà Nguyễn. Chương IX. Quân nước Pháp lấy Bắc Kỳ
  10. ^ Đại Nam thực lục-chính biên, tập 7, đệ tứ kỷ, quyển XLIX, trang 1423.
  11. ^ Xem Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp, tr. 188
  12. ^ Đại Nam thực lục-chính biên, tập 7, đệ tứ kỷ, quyển XLIX, trang 1428.
  13. ^ a ă Xem Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp, tr.137-146, tác giả Bùi Thành và Nguyễn Vĩnh Phúc
  14. ^ Xem Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp, tập tám tr. 465
  15. ^ Xem Nguyễn Trọng Hợp, con người và sự nghiệp, tập tám tr.556
  16. ^ Malet Isaac: La naissance du monde moderne 1848-1914 tr.245-254, Librairie Hachette (1961)
  17. ^ Philippe Devillers: Français et Annamites, Partenaires ou ennemis? (1856-1902), Denoël (1998) tr. 252
  18. ^ Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Cận kim thời đại – Nhà Nguyễn. Chương XII. Cuộc bảo hộ của nước Pháp-Hòa ước năm Quý Mùi (1883).
  19. ^ Bài "Ngược dòng lịch sử ngày 25 tháng 8" trên BBC Việt ngữ điện tử
  20. ^ Charles Fourniau: "Vietnam: domination coloniale et résistance nationale 1858-1914" Ed. Les Indes savantes (2002), tr.347.
  21. ^ Xem Đại Nam thực lục, Tập chín tr.44
  22. ^ Xem Đại Nam thực lục, Tập chín tr. 54
  23. ^ a ă Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Cận kim thời đại – Nhà Nguyễn. Chương XV. "Việc đánh dẹp ở Trung kỳ và ở Bắc kỳ"
  24. ^ Một khoa thi được tổ chức ở Nam Định năm 1886 [cần dẫn nguồn]
  25. ^ Xem Đại Nam thực lục, Tập chín tr.364
  26. ^ Xứ Đông Dương, Nhà xuẩ bản Thế giới, tr 292
  27. ^ [25]
  28. ^ Xứ Đông Dương, Nhà xuẩ bản Thế giới, tr 293
  29. ^ Bài báo "Di tích lịch sử cấp quốc gia lăng mộ và nhà thờ Nguyễn Trọng Hợp: Mười năm trời hoang phế" trên báo Hà Nội Mới điện tử