Cao Xuân Dục
Cao Xuân Dục (chữ Hán: 高春育; tự là Tử Phát, hiệu Long Cương Cổ Hoan Đông Cao; 1843–1923) là một quan đại thần của triều đình nhà Nguyễn, Việt Nam, từng làm tổng đốc, thượng thư và Đông các đại học sĩ, tổng tài Quốc sử quán.
| Cao Xuân Dục | |
|---|---|
| Thông tin chung | |
| Sinh | 1843 Diễn Châu , Nghệ An |
| Mất | 1923 (79 - 80 tuổi) |
| Nghề nghiệp | tổng đốc , thượng thư |
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Cao Xuân Dục sinh năm 1843 tại thôn Thịnh Mỹ (Thịnh Khánh), xã Cao Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Cao Xuân Dục nổi tiếng thông minh từ nhỏ, khi theo học được thầy dạy yêu mến, gả cho con gái. Nhưng về đường khoa cử, Cao Xuân Dục lại khá lận đận, muộn mằn, mãi đến năm ông 34 tuổi (1876) mới đỗ Cử nhân, năm sau đi thi Hội lại bị trượt. Từ sau đó trở đi, Cao Xuân Dục không tiếp tục con đường cử tử nữa, mà bước chân vào chính trường với chức quan đầu tiên là Hậu bổ Quảng Ngãi.
Trong quá trình làm quan, ông đã trải qua những chức:
- Biện lư Bộ Hình (1883)
- Án sát Hà Nội (1883)
- Bố chính Hà Nội (1884)
- Tuần phủ Hưng Yên (1889)
- Tổng đốc Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang (1889)
- Khâm sai Chủ khảo trường thi Hương Hà Nam (1894)
- Tổng đốc Định Ninh (1896)
- Phong tước Kiên Giang Quận công (1898)
- Phó Tổng tài Quốc Sử Quán (1898)
- Tổng tài Quốc Sử Quán (1903)
- Chủ khảo trường thi Hội (1901), quản Quốc Tử Giám
- Thượng thư Bộ Học (1907)
- Cơ mật viện Đại thần - Phụ chính Đại thần
- Phong hàm Thái tử Thiếu bảo (1908)
- Phong tước An Xuân tử (1911)
- Về hưu với hàm Đông các Đại học sĩ (1913).
Đông các Đại học sĩ là một trong Tứ trụ Triều đình, bốn vị quan lớn có nhiệm vụ bàn bạc với vua những chuyện quan trọng trong việc giữ gìn cơ sở đất nước. Đông các Đại học sĩ có nhiệm vụ lập dựng các văn thư quan trọng, coi sóc việc tuyển chọn nhân sự của triều đình.
Khi Trương Như Cương theo Pháp muốn làm Phó vương, bắt các quan trong triều phải ký vào biểu dâng lên Vua, Cao Xuân Dục đã không nghe theo, còn đề vào mấy câu:
|
|
|
Do đó mà ông bị gièm, giáng chức về làm Tri phủ huyện Quốc Oai.[1]
Cao Xuân Dục qua đời năm 1923, thọ 81 tuổi.
Tại thành phố Vinh, ngày 6 tháng 12 năm 2012, có cuộc hội thảo khoa học Lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2012 tại Wayback Machine về đóng góp của Cao Xuân Dục trong nền văn học Việt Nam.


Gia quyến
[sửa | sửa mã nguồn]Cao Xuân Dục có 7 vợ và thê thiếp, sinh tổng cộng 8 trai và 12 gái.
- Chánh thất là Phan Thị Tiệp, quê Nghệ An, sinh được 1 trai 3 gái.
- Thứ thất Phan Thị Chiêu, quê Nghệ An, không có con.
- Thứ thất Trương Thị Liễu, quê Nghệ An, sinh 1 con trai.
- Thứ thất Ngô Thị Trinh, quê Hà Đông, sinh 1 trai 1 gái.
- Thứ thất Lê Thị Nhữ (? – 1927), quê Hải Dương, sinh 3 gái.
- Thứ thất Lê Thị Tính (? – 1948), quê Hà Đông, sinh 1 trai 3 gái.
- Thứ thất Lê Thị Di, sinh 4 trai 2 gái.
Các con ông lần lượt là:
Con trai
[sửa | sửa mã nguồn]- Con trai cả Cao Xuân Tiếu, mẹ là Phan Thị Tiệp, Phó bảng khoa Ất Mùi (1895), làm quan đến Thượng thư,
- Con trai thứ 2 Cao Xuân Khôi (? – 1955), mẹ là Trương Thị Liễu, đỗ Tú tài (1905),
- Con trai thứ 3 Cao Xuân Xang (1889 – 1930), mẹ là Ngô Thị Trinh. Đỗ Cử nhân (1909), tham gia phong trào Đông Du. Năm 1911 đi du học Pháp rồi về nước làm quan đến chức Thương tá, hàm Tòng nhị phẩm. Ông mất năm 1930 khi còn tại chức. Ông lấy bà Nguyễn Thị Hoàn (1892 – 1926), con Thượng thư Nguyễn Hữu Toản, vào năm 1912, có 6 người con; sau tục huyền với bà Hồ Thị Hạnh, con Quận Công Hồ Đắc Trung.
- Con trai thứ 4 Cao Xuân Thọ (1899 – 1952), Cử nhân (1911), làm quan Tri phủ. Ông có 3 vợ và thê thiếp, trong đó bà Hà Thị Thanh Hải (1900 – 1961) là con Hiệp tá Hà Thúc Tuân.
- Con trai thứ 5 Cao Xuân Đài (? – 1953), mẹ là Lê Thị Di, được tập ấm Hàn lâm viện Trước tác.
- Con trai thứ 6 Cao Xuân Cẩm (1906 – 1981), mẹ là Lê Thị Di, bác sĩ. Người vợ đầu của ông là Hoàng Thị Tỵ (1905 – ?), con Quan Đại thần Hoàng Mạnh Trí.
- Con trai thứ 7 Cao Xuân Thể (1910 – 1931), mẹ là Lê Thị Di, đỗ Tú tài, sau du học Pháp học khoa Dược, mất vì bệnh lao.
- Con trai út Cao Xuân Tuệ (1913 – ?), mẹ là Lê Thị Di, dược sỹ, sau nhập tịch Pháp, vợ ông là Dominique Romani người Ý.
Con gái
[sửa | sửa mã nguồn]- Con gái cả Cao Thị Bích (1864 – 1949), mẹ là Phan Thị Tiệp, lấy ông Đặng Văn Thuỵ, Đình nguyên Hoàng giáp năm Giáp Thìn (1904), làm quan đến chức Tế tửu.
- Con gái thứ 2 Cao Thị Quán, mẹ là Phan Thị Tiệp, chồng là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Trị, con trai cả Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, thủ lĩnh phong trào Cần Vương ở Nghệ An.
- Con gái thứ 3 Cao Thị Hoà (1878 – 1970), bút hiệu Ngọc Anh, mẹ là Phan Thị Tiệp, nữ thi sĩ Việt Nam hiện đại. Bà lấy ông Cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp, con ông Nguyễn Trọng Hợp, Văn minh Đại học sĩ.
- Con gái thứ 4 Cao Thị Thuyên (1882 – 1954), mẹ là Ngô Thị Trinh, lấy ông Hoàng Tăng Bí, Phó bảng khoa Canh Tuất (1910).
- Con gái thứ 5 Cao Thị Trâm (1887 – 1971), mẹ là Lê Thị Nhữ, lấy ông Lê Xuân Mai (1874 – 1945), Quang lộc tự Khanh.
- Con gái thứ 6 Cao Thị Soa (1888 – 1978), mẹ là Lê Thị Nhữ, lấy ông Võ Văn Chấp (1868 – 1932), đỗ Cử nhân năm Đinh Dậu (1897), sau làm đến Thừa chỉ Nội các, Hàn lâm viện Thị độc.
- Con gái thứ 7 Cao Thị Diệm (1895 – 1977), mẹ là Lê Thị Tính, lấy ông Trương Như Đính (1892 – 1970), Thượng thư bộ Kinh Tế.
- Con gái thứ 8 Cao Thị Ngân (1901 – 1981), mẹ là Lê Thị Nhữ, lấy ông Nguyễn Hữu Cung (1899 – 1993), Phó Chưởng lý, Chánh Nhất Toà Thượng thẩm Huế, sau 1975 tị nạn tại Canada. Ông Cung là con quan Tuần vũ Nguyễn Hữu Đắc.
- Con gái thứ 9 Cao Thị Đoá (1908 – 1975), mẹ là Lê Thị Tính, chồng đầu là Tri phủ Nguyễn Hữu Phúc, con quan Tuần vũ Nguyễn Hữu Đắc; người chồng thứ hai là Giáo sư Thái Cửu.
- Con gái thứ 10 Cao Thị Nhuỵ (1910 – 2004), mẹ là Lê Thị Tính, người chồng đầu là Bác sĩ Nguyễn Công Huân (? – 1931), chồng thứ 2 là Tôn Thất Viễn Đệ, con Bố chánh Tôn Thất Chiêm Thiết thuộc Hoàng tộc nhà Nguyễn. Hai người sau đó ly hôn, rồi bà làm kế thất của ông Lê Văn Minh (1901 – 1984). Sau 1975, bà cùng gia đình sang Úc định cư.
- Con gái thứ 11 Cao Thị Kính, mẹ là Lê Thị Di, mất sớm năm 14 tuổi.
- Con gái út Cao Thị Xuân Tích (1914 – 1947), mẹ là Lê Thị Di, lấy ông Trần Văn Thi (? – 1946), con ông Phán sự Trần Văn Căn.
Nhận xét
[sửa | sửa mã nguồn]Phó giáo sư Chương Thâu (Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu) có viết:
- "Cao Xuân Dục có thể xứng đáng là một nhà văn hoá lớn ở nước ta cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đứng đầu bộ Học và Sử Quán, ông chỉ đạo và tham gia biên soạn cùng một số học giả ở hai cơ quan này nhiều bộ sách về sử và địa lý".[2]
Cao Xuân Dục rất có ý thức sưu tầm bảo lưu sách cổ, trong thời gian làm quan khắp nơi, cụ dày công tìm kiếm thuê người chép lại những bộ sách quý hiếm, xây dựng nên Long Cương Bảo tàng Thư viện, một trong vài thư viện lớn bậc nhất ở Nghệ Tĩnh (cùng với Mộng Thương thư trai của gia đình Nguyễn Chi ở Can Lộc).
Tại Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường (trước là đường Cần Giuộc, ở Quận 8, gần cầu Chà Và trên đường đi ra phía cầu Nhị Thiên Đường) được đặt tên ông.
Tác phẩm
[sửa | sửa mã nguồn]Cao Xuân Dục tham gia soạn thảo các sách:
- Đại Nam thực lục (ghi sử 1883-1888),
- Quốc triều tiền biên toát yếu (ghi sử các chúa Nguyễn từ Nguyễn Kim đến hết Chúa Nguyễn Phúc Dương),
- Quốc triều chính biên toát yếu (ghi sử nhà Nguyễn từ khi vua Gia Long lên ngôi (1802) đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1889),
- Đại Nam Nhất Thống Chí (địa chí Trung Bộ - Duy tân - 1910),
- Đại Nam Dư Địa Chí Ước Biên (Trung và Bắc Bộ),
- Quốc Triều Luật Lệ Toát Yếu (Duy Tân 1907-1916),
- Quốc triều khoa bảng lục (ghi chép tên họ, quê quán người thi đỗ),
- Quốc Triều Hương Khoa Lục (ghi chép tên họ, quê quán người thi đỗ).
Ngoài ra ông còn biên tập:
- Bộ Nhân Thế Tu Tri (1901 - 8 tập 900 trang) trích trong Kinh Sử những lời hay ý đẹp nhằm giúp giáo dục con người tu dưỡng, sửa mình và mưu sinh;
- Long Cương Văn Đối;
- Long Cương Bát Thập Thọ Ngôn;
- Long Cương Đối Liên;
- Long Cương lai hạ tập;
- Long Cương hưu đình hiệu tần;
- Hà Nam trường hương thi văn tuyển;
- Hạ Thọ Liên;
- Hạ Ngôn đăng lục.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Tượng thờ tại Động Hoàng xá
- ↑ Cao xuân Dục - Nhà văn hoá lớn cận đại - PGS TS Sử học Chương Thâu