Phó bảng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phó bảng (chữ Hán: 副榜; tiếng Hoa: Ất tiến sĩ 乙進士) là một học vị trong hệ thống giáo dục Việt Nam thời nhà Nguyễn (1802-1945).

Học vị ở dưới Tiến sĩ, trên Cử nhân. Người đi dự thi Hội mà không đủ điểm đỗ tiến sĩ, được lấy đỗ thêm để khuyến khích, tên ghi vào một bảng phụ, nên gọi là Phó bảng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Học vị này có từ năm 1829 khi vua Minh Mạng chủ trương lấy thêm học vị phó bảng "để bổ dụng trước cho được phân biệt với cử nhân, giám sinh không cập cách" (trích Đại Nam thực lục). Từ năm này các thí sinh đỗ thi Hội được chia làm hai bảng theo số điểm bài thi: chánh bảng và phó bảng. Chánh bảng là đỗ chính thức, phó bảng là bảng phụ, lấy đỗ thêm.

Thể thức yết bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Chính bảng và phó bảng cách biệt khá xa. Ngày ra bảng thi Hội, bảng danh sách các chánh bảng được đặt lên án đỏ, có khăn đoạn vàng trùm kín, che lọng đỏ. Án khiêng đi trước, các quan giám thí tuần sát đem quân lính đi sau hộ vệ, rồi đến quan chủ khảo, quan Tri cống cử ngồi võng đi theo, đến Ngọ môn thì dừng lại đem danh sách vào trình vua theo nghi thức, sau đó lại đem ra rồi cả đoàn lại cứ thế đi đến Phu Văn lâu đem bảng treo lên 3 ngày. Bảng danh sách Phó bảng thì chỉ được đem treo lên một ngày, hôm sau cất đi, không có nghi lễ gì.

Thể thức thi Đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phó bảng không được dự thi Đình để xếp loại tiến sĩ. Đỗ đầu là Đình nguyên. Từ năm 1851 vua Tự Đức có cho thêm một số Phó bảng có điểm số thi Hội gần với điểm chuẩn đỗ chánh bảng được tham dự thi Đình để có thêm cơ hội phấn đấu. Nếu đạt điểm chuẩn đỗ tiến sĩ thì được công nhận là tiến sĩ, nếu không đạt vẫn được công nhận là Phó bảng.

Từ 1829, thang điểm thi Đình là:

  • Đạt 10 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh (Trạng nguyên, nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên nào).
  • Đạt 9 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn).
  • Đạt 8 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa).
  • Đạt 7 và 6 điểm, đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
  • Đạt 5 điểm trở xuống đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).
  • Đạt 5 điểm trở xuống đỗ phó bảng.

Năm 1851 khi cho một số phó bảng dự thi Đình, vua Tự Đức giữ nguyên tiêu chuẩn đỗ tiến sĩ cập đệ và tiến sĩ xuất thân, sửa lại tiêu chuẩn đỗ đồng tiến sĩ xuất thân như sau:

  • Đạt 4 điểm đến 5 điểm đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).
  • Đạt 3 điểm trở xuống đỗ phó bảng.

Việc phân chia loại đỗ tiến sĩ và phó bảng như trên chẳng khác mấy với việc phân chia các loại đỗ thành giỏi, khá, trung bình và thường hiện nay.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa bảng
Thi Hương Thi Hội Thi Đình
Giải nguyên Hội nguyên Đình nguyên
Hương cống
Sinh đồ
Thái học sinh
Phó bảng
Trạng nguyên
Bảng nhãn
Thám hoa
Hoàng giáp
Đồng tiến sĩ xuất thân