Phó bảng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phó bảng (chữ Hán: 副榜; tiếng Hoa: Ất tiến sĩ 乙進士) là một học vị trong hệ thống khoa bảng Việt Nam trong thời Nguyễn (1829 đến 1919).

Cống sĩ đã dự thi Hội khi đậu đại khoa chia 2 hạng: hạng dưới gọi là Phó bảng, hạng trên gọi là Chính bảng (Cập đệ, Hoàng giáp, Tiến sĩ)

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Học vị này có từ năm 1829, Minh Mạng quy định đỗ đại khoa chia thành hạng Chính bảng (hạng trên: gồm Cập đệ, Hoàng giáp, Tiến sĩ) và Phó bảng (hạng dưới).

Một số danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Phó bảng năm 39 tuổi, làm quan đến Thị giảng, từng làm Phó sứ sang Yên Kinh

Vũ Duy Thanh (1807 - 1859), Phó bảng năm 44 tuổi, đỗ Thủ khoa Chế khoa, làm Tư nghiệp rồi Tế tửu Quốc tử giám Huế

Đỗ Đăng Đệ (1814-1888), Phó bảng năm 28 tuổi, làm quan đến Lễ bộ Thượng thư, là nhà thơ

Nguyễn Sinh Sắc (1862–1929) Phó bảng năm 40 tuổi làm quan Thừa biện bộ Lễ là thân sinh Hồ Chí Minh

Lê Viết Tạo (1876 - 1925) Phó bảng năm 44 tuổi làm quan đến Thừa phái Bộ Hình là cụ nội của Lê Viết Lam (chủ tập đoàn Sun Group)

Nguyễn Thúc Dinh (1877 - 1954) Phó bảng năm 30 tuổi làm quan đến Lại bộ Thượng thư là thân sinh GS Nguyễn Thúc Hào



Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa bảng
Thi Hương Thi Hội Thi Đình
Giải nguyên Hội nguyên Đình nguyên
Hương cống
Sinh đồ
Thái học sinh
Phó bảng
Trạng nguyên
Bảng nhãn
Thám hoa
Hoàng giáp
Đồng tiến sĩ xuất thân