Paul Doumer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Pôn Đume
Paul Doumer 1931.jpg
Tổng thống thứ 14 của Pháp
Nhiệm kỳ
13 tháng 6 năm 1931 – 7 tháng 5 năm 1932
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000329.000000329 ngày
Thủ tướngPierre Laval
André Tardieu
Tiền nhiệmGaston Doumergue
Kế nhiệmAlbert François Lebrun
Thông tin cá nhân
Sinh22 tháng 3 năm 1857
Aurillac, Đệ nhị Đế chế Pháp
Mất7 tháng 5 năm 1932 (75 tuổi)
Paris, Đệ tam Cộng hoà Pháp
Đảng chính trịĐảng Cấp tiến
Alma materĐại học Paris

Paul Doumer (phát âm tiếng Việt: Pôn Đu-me), tên gọi đầy đủ Joseph Athanase Paul Doumer (Aurillac, Cantal, 22 tháng 3 1857 - Paris, 7 tháng 5 1932) là một chính trị gia người Pháp. Ông là Toàn quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902Tổng thống Pháp từ 1931 đến 1932.

Báo chí tiếng Việt đương thời còn phiên âm tên Doumer là Đỗ Mỹ.

Paul Doumer xuất thân từ một gia đình lao động, bố làm công nhân xe lửa. Năm 12 tuổi, ông đã phải đi kiếm sống, làm thợ khắc, sau đó vào học trường dạy nghề. Chàng thanh niên Paul là người có nghị lực. Năm 20 tuổi, ông đỗ bằng cử nhân toán học, năm sau lấy tiếp bằng cử nhân luật, trở thành chuyên gia tài chính. Sau một thời gian ngắn dạy học, ông ra làm báo, gia nhập Đảng cấp tiến Pháp và được bầu làm Nghị sĩ của đảng này. Từ đó bước vào chính trường.

Từ người viết báo trở thành Nghị sĩ nhờ quan điểm chính trị cấp tiến, Paul Doumer bắt đầu có quan hệ chặt chẽ với các tập đoàn tài chính - công nghiệp, ông từng là thành viên Hội đồng quản trị Tổng công ty Điện lực CGE. Tham gia chính phủ, ông chuyển lập trường sang phái hữu, tuy trên danh nghĩa không rời bỏ Đảng cấp tiến. Năm 1895, làm Bộ trưởng tài chính, Paul Doumer ban hành thuế thu nhập. Từ những quan hệ chằng chịt nơi hậu trường, ông rời chính phủ sang Đông Dương làm Toàn quyền.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nguyên khiêm tốn và khó xác thực[sửa | sửa mã nguồn]

Joseph Athanase Doumer sinh ngày 22 tháng 3 năm 1857 tại Aurillac, thuộc Cantal. Khi khai thủy sự nghiệp sinh nhai, Doumer sử dụng danh tự của tổ phụ là Paul (thành viên trung thành của Đảng Cộng hoà) nhiều hơn tên thực của mình.

Ông rửa tội tại nhà thờ Công giáo Notre-Dame-aux-Neiges d'Aurillac, ông có hai chị gái: Renée (sinh năm 1854) và Thérèse (sinh năm 1855). Lương thấp của cha khiến điều kiện sống của gia đình trở nên khó khăn và ông sống trong căn hộ cho công nhân

Phải thừa nhận rằng phụ mẫu ông ta có vận mệnh rất khiêm tốn, nguồn gốc và xuất thân gia đình của tổng thống tương lai của nền Cộng hòa rất bất thường. Giấy xuất sinh cho biết ông là nhi tử của Chan Đu-mà (Jean Doumer)-công tác trong ngành đường sắt, và Bik-tô-rin Đe-bid (Victorine David)-thất nghiệp. Cả phu phụ có khả năng chưa kết hôn, Victorine David trước khi quen Chan (Jean) thì đã kết hôn vào năm 1835 nhưng nam nhân đã bỏ rơi bà.

Trong cuốn sách viết về tiểu sử Pô Đu-mà (Paul Doumer) vào năm 2013, Amaury Lorin cho rằng Chan Đu-mà (Jean Doumer), trong khi đản sinh nhi tử, là một nhân viên lưu động của ngành đường sắt d'Orléans : với tư cách là người lắp đặt đường ray, ông tham gia xây dựng tuyến đường ray Paris-Aurillac. Vào tháng 11 năm 1857, nhiệm vụ của Chan Đu-mà (Jean Doumer) đã hoàn thành, gia đình rời Ô-ri-ya (Aurillac) đến Paris, giống như nhiều gia đình lao động khác ở Kantal (Cantal). Gia đình định cư ở Thị trấn Montmartre. Amaury Lorin (À-máu-ri Rô-rìn) chỉ ra rằng một tháng sau khi đến vùng Paris, vào tháng 12 năm 1857, Chan Đu-mà (Jean Doumer) tử vong chưa rõ lý do ; các nguồn khác đoán đó là do một sự cố công nghiệp. Từ đó trở đi, để đảm bảo sự sinh tồn của gia đình, Victorine Doumer khai thuỷ đảm nhiệm nghề người giúp việcthợ may, và sẽ chuyển đến Belleville.

Vào những năm 2010, Chan-Mi-sơ Mi-ê (Jean-Michel Miel) và học giả phả hệ Bê-a-tô-ri Ru-sô (Béatrice Rousseau) thực thi nghiên cứu và đưa ra một kết quả bất đồng với quan niệm cũ. Phụ thân trên thực tế của Pô Đu-mà (Paul Doumer) là Chan Đu-ma-gu (Jean Doumerg) (xuất sinh năm 1821 tại Camburat, thuộc Lot), hướng dẫn viên du lịchCastelnau (Kát-tê-nàu) (Lot) cho đến khi ông từ nhiệm năm 1854, sau đó hợp tác làm ăn và liên hệ với các khởi nghiệp gia trong lĩnh vực công trình đường bộ địa phương Lot (Rót). Kết quả nghiên cứu phản đối những thông tin xưa nay trên báo chí, phụ thân không tử vong mà bỏ rơi gia nhân, điều này khiến Bik-tô-rin Đe-bid (Victorine David) chuyển đến Paris cùng ba hài tử. Chan Đu-ma-gu (Jean Doumerg) tiếp tục công tác làm con đường địa phương cho đến năm 1858, và sau đó di cư đến Paris, nơi ông là một nhà khảo sát số lượng. Toà án phán quyết vắng mặt ông vào năm 1873 vì tham gia Công xã. Trở về thủ đô sau khi đại xá, ông tử vong tại quận 17 (Paris) vào năm 1893

Pô Đu-mà (Paul Doumer) tiến hành tìm hiểu về tổ tiên của mình vào năm 1877 và đặt giả thiết Chan Đu-ma-gu (Jean Doumerg) mới là cha mình. Trong sự nghiệp sinh nhai, ông vẫn làm người ta mơ hồ về khởi nguyên của mình do sự trung thành với phụ thân Đu-ma-gu.

Thời đi học và có chỗ đứng trong xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đài lưu niệm ở Học viện Roland Dorgelès (quận 18, Paris).

Pô Đu-mà (Paul Doumer) học trường tiểu học dành cho nam sinh trên phố Ramey (Ra-mi), nằm ở Quận 18, Paris. Ông ta không được nhận học bổng, chỉ có khoảng 4.000 nhân tài sau đó đủ tư cách nhận ân huệ. Là một trong những học sinh giỏi nhất ở quận Montmartre, ông nhận chứng chỉ học tập sơ đẳng (CHS) vào năm 1870.

Năm mười hai tuổi, do tình hình tài chính của gia đình, anh phải từ bỏ việc học để học việc ; sau đó ông là một trong những thiếu niên Pháp hiếm hoi có ân huệ từ loại học này. Trong sáu năm, ông ta làm nghề chuyển phát nhanh, sau đó là một công nhân điêu khắc trong một nhà máy huy chương ở Paris. Song song, anh truy cầu các khoá học nghiên cứu tự do tại trường giáo dục thường xuyên tại Trường Kỹ nghệ Quốc gia Pháp. Ông đặc biệt hứng thú đến số học, hóa học, tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Năm 1876, ông có tú tài khoa học với nhiều lời khen ngời.

Toàn quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Paul Doumer giữ chức Toàn quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902. Dưới thời Toàn quyền Paul Doumer, chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam bước sang một bước ngoặt mới.

Paul Doumer là một người mang lại nhiều thay đổi sâu sắc. Từ lúc nhậm chức, ông đã đặt guồng máy chính quyền và các cơ sở khai thác kiên cố cho đến năm 1945. Ông chủ trương biến chế độ bảo hộ thành chế độ thực trị, chấm dứt chủ quyền và thống nhất của Việt Nam, phân hóa rõ rệt ba miền. Doumer tập trung quyền hành vào chức vụ Toàn quyền, để triều đình nhà Nguyễn đóng cửa Nha Kinh lược sứ Bắc kỳ, giao chức Kinh lược sứ, một chức quan trong triều đình Huế, cho Thống sứ Bắc kỳ lúc bấy giờ là Fourès[1].

Ông tổ chức khai thác triệt để các tài nguyên của các nước trong Liên hiệp Đông Pháp, biến Đông Dương thành một thị trường cho kỹ nghệ và thương mại của thực dân Pháp, và cùng lúc thành lập nơi đây một tiền đồn kinh tế và quân sự vững chắc của thực dân Pháp tại toàn cõi Viễn Đông.

Dưới thời Doumer, hệ thống hạ tầng cơ sở tại Đông Dương được kiến thiết rất nhiều, nhưng người dân Việt phải chịu sưu thuế rất nặng để phục dịch và chu cấp cho việc này.

Doumer chính là người bênh vực mạnh mẽ cho việc xây tuyến đường sắt xuyên Đông Dương và nối với tỉnh Vân nam của Trung quốc. Ông sốt sắng tới mức báo chí Pháp mỉa mai gọi Doumer và thuộc cấp là "Những người theo chủ nghĩa đường sắt". Toàn quyền Doumer đích thân chỉ đạo quy hoạch, thiết kế và thường xuyên đôn đốc xúc tiến công trình đầy khó khăn kéo dài nhiều năm, mới tới 1937 mới hoàn thành.

Paul Doumer cho mở mang cảng Hải Phòng làm đầu cuối của tuyến đường sắt nối vùng cao Tây Nam Trung Quốc với duyên hải Bắc Bộ Việt Nam.

Ông cho lập một số nhà máy điện. Dưới nhiệm kỳ ông, Hà Nội trở thành thành phố đầu tiên ở châu Á phố xá được chiếu sáng bằng ánh điện (cho dù tới năm 1954, công suất của Nhà máy điện Yên Phụ cũng chưa tới 5000KW).

Ông khuyến khích nhập giống cây cao su, lập nên những đồn điền lớn do người Pháp làm chủ, tạo nguồn hàng xuất khẩu.

Ông nhanh chóng đồng tình kiến nghị của bác sĩ Yersin, người khám phá ra cao nguyên Langbian, lập thành phố Đà Lạt.[2][3]

Tên ông được đặt cho một cây cầu ở Hà Nội, ông là người chính thức quyết định xây dựng cầu này, về sau đổi tên là cầu Long Biên. Cầu Long Biên là một công trình kỳ vĩ (trước 1945 là cầu dài nhất cõi Đông Dương), tạo thêm một nét đặc trưng cho Hà Nội.

Các hoạt động chính trị khác[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Doumer được ngợi ca về lòng yêu nước. Ông có năm con trai thì bốn người chiến đấu và hy sinh trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Bản thân Paul Doumer là Quốc vụ khanh, thành viên Hội đồng Chiến tranh do đích thân Tổng thống Pháp chủ trì. Ông làm chủ tịch Ủy ban kinh tế của Hội đồng này.

Tổng thống[sửa | sửa mã nguồn]

Ông trúng cử chức Tổng thống Cộng hòa Pháp ngày 13 tháng 5 năm 1931, nhậm chức ngày 13 tháng 6 năm 1931. Sau đó chưa đầy 1 năm, Doumer bị một kẻ lưu vong người Nga bị rối loạn thần kinh là Paul Gorgulov ám sát vào ngày 6 tháng 5 năm 1932 tại Paris. Ông chết bởi vết thương vào ngày hôm sau, lúc 4 giờ 37 sáng 7 tháng 5 năm 1932.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ


Flag of France.svg Các tổng thống Cộng hòa Pháp Flag of France.svg
18 48 18 52 18 71 18 73 18 79 18 87 18 94 18 95 18 99
Louis-Napoléon
Bonaparte
Adolphe
Thiers
Patrice
de Mac-Mahon
Jules
Grévy
Sadi
Carnot
Jean
Casimir-Perier
Félix
Faure
18 99 19 06 19 13 19 20 19 20 19 24 19 31 19 32 19 40 19 47
Émile
Loubet
Armand
Fallières
Raymond
Poincaré
Paul
Deschanel
Alexandre
Millerand
Gaston
Doumergue
Paul
Doumer
Albert
Lebrun
19 47 19 54 19 59 19 69 19 74 19 81 19 95 20 07 20 12 20 17 ...
Vincent
Auriol
René
Coty
Charles
de Gaulle
Georges
Pompidou
Valéry
Giscard d'Estaing
François
Mitterrand
Jacques
Chirac
Nicolas
Sarkozy
François
Hollande
Emmanuel
Macron
  

Lịch sử PhápDanh sách vua và hoàng đế PhápTổng thống Pháp


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn quyền Đông Dương

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt nam sử lược. Trang 347
  2. ^ 2008, tr. 84
  3. ^ 2008, tr. 85