Lịch sử Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lịch sử Pháp
Họa phẩm Nữ thần Tự do dẫn dắt nhân dân của Eugène Delacroix minh họa cho cuộc cách mạng dưới nền Quân chủ Tháng bảy
Cổ đại
Nuvola apps kbouncey.png Gaule
Nuvola apps kbouncey.png Franc
Trung Cổ
Nuvola apps kbouncey.png Mérovée
Nuvola apps kbouncey.png Carolingien
Nuvola apps kbouncey.png Capet
Nuvola apps kbouncey.png Valois
481 - 751
751 - 987
987 - 1328
1328 - 1498
Hiện đại
Nuvola apps kbouncey.png Valois-Orléans
Nuvola apps kbouncey.png Valois-Angoulême
Nuvola apps kbouncey.png Bourbon
1498 - 1515
1515 - 1589
1589 - 1792
Đương đại
Nuvola apps kbouncey.png Cách mạng Pháp
Nuvola apps kbouncey.png Chế độ tổng tài
Nuvola apps kbouncey.png Đệ nhất đế chế
Nuvola apps kbouncey.png Bourbon phục hoàng
Nuvola apps kbouncey.png Quân chủ tháng Bảy
Nuvola apps kbouncey.png Đệ nhị cộng hòa
Nuvola apps kbouncey.png Đệ nhị đế chế
Nuvola apps kbouncey.png Đệ tam cộng hòa
Nuvola apps kbouncey.png Chính phủ Vichy
Nuvola apps kbouncey.png Chính phủ lâm thời
Nuvola apps kbouncey.png Đệ tứ cộng hòa
Nuvola apps kbouncey.png Đệ ngũ cộng hòa
1789 - 1799
1799 - 1804
1804 - 1814
1814 - 1830
1830 - 1848
1848 - 1852
1852 - 1870
1870 - 1940
1940 - 1944
1944 - 1946
1946 - 1958
Từ 1958
Chủ đề Pháp

Những ghi chép đầu tiên về lịch sử nước Pháp đã xuất hiện từ thời đại đồ sắt . Ngày nay, nước Pháp chiếm phần lớn khu vực được người La Mã cổ đại gọi là vùng Gaul . Các nhà văn La Mã đã ghi nhận sự hiện diện của ba nhóm ngôn ngữ chính trong khu vực này: Gauls, Aquitani và Belgae . Người Gaul, nhóm lớn nhất trong số này, là những người Celtic nói một thứ ngôn ngữ được gọi là Tiếng Gaul.

Trong suốt thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, người Hy Lạp, La Mã và Carthage đã thiết lập các thuộc địa trên bờ biển Địa Trung Hải và các đảo ngoài khơi. Cộng hòa La Mã sáp nhập miền nam Gaul vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, và quân đội La Mã dưới thời Julius Caesar đã chinh phục phần còn lại của xứ Gaul trong cuộc Chiến tranh Gallic (58-51 trước Công nguyên). Sau đó, một nền văn hóa kết hợp Gallic-La Mã xuất hiện và Gaul ngày càng được hòa nhập vào Đế chế La Mã .

Trong giai đoạn sau của Đế chế La Mã, Gaul phải đối mặt với các cuộc đột kích và di cư của những nhóm man tộc, trong đó chủ yếu là người Franks thuộc dân tộc German. Vua của người Frank là Clovis I đã hợp nhất hầu hết Gaul dưới sự cai trị của ông vào cuối thế kỷ thứ 5, tạo tiền đề cho sự thống trị của người Frank trong khu vực hàng trăm năm sau đó. Sức mạnh của người Frank đạt đến mức đỉnh cao dưới thời Charlemagne . Vương quốc Pháp thời trung cổ đã được thành lập từ phần lãnh thổ phía tây thuộc Đế chế Carolingian của Charlemagne, được gọi là Tây Francia, và ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn dưới sự cai trị của Nhà Capet, do Hugh Capet thành lập năm 987.

Một cuộc khủng hoảng liên tiếp sau cái chết của vị vua nhà Capet cuối cùng vào năm 1328 đã dẫn đến một loạt các cuộc xung đột được gọi là Cuộc chiến Trăm năm giữa Nhà Valois và Nhà Plantagenet . Chiến tranh nổ ra xoay quanh chuyện nhà Valois tuyên bố mình là vua của nước Pháp, còn nhà Plantagenet lại đòi hỏi ngôi vua của cả nước Pháp và nước Anh. Bất chấp những chiến thắng đầu tiên của Plantagenet, bao gồm cả việc bắt giữ và đòi tiền chuộc John II của Pháp, vận may đã dần chuyển sang ủng hộ Valois. Trong số những nhân vật đáng chú ý của cuộc chiến có Joan of Arc, một cô gái nông dân người Pháp đã lãnh đạo nhân dân Pháp chống lại người Anh, về sau được coi là nữ anh hùng dân tộc. Chiến tranh kết thúc với chiến thắng của nhà Valois năm 1453.

Chiến thắng trong Chiến tranh Trăm năm có tác dụng củng cố chủ nghĩa dân tộc Pháp và gia tăng mạnh mẽ sức mạnh của chế độ quân chủ Pháp. Trong thời kỳ được gọi là Ancien Régime, Pháp trở thành một nước quân chủ chuyên chế. Trong những thế kỷ tiếp theo, Pháp trải qua thời kỳ Phục hưngCải cách Tin lành . Ở đỉnh cao của Chiến tranh tôn giáo Pháp, đất nước bị cuốn vào một cuộc khủng hoảng kế vị khác, khi vị vua cuối cùng của nhà Valois là Henry III chiến đấu chống lại các phe phái đối địch là Nhà Bourbon và Nhà Guise. Henry, Vua của Navarre, thuộc gia tộc Bourbon, giành chiến thắng trong cuộc xung đột và thiết lập nên vương triều Bourbon. Một đế chế thực dân Pháp được thành lập vào thế kỷ 16. Quyền lực chính trị của Pháp đạt đến đỉnh cao dưới sự cai trị của Louis XIV, còn được gọi là "Vua mặt trời", ông là người đã cho xây dựng Cung điện Versailles .

Vào cuối thế kỷ 18, chế độ quân chủ đã bị lật đổ trong Cách mạng Pháp. Đất nước trải qua một giai đoạn theo chế độ cộng hòa, cho đến khi Đế chế Pháp được thành lập bởi Hoàng đế Napoleon Bonaparte. Sau thất bại của Napoléon trong Chiến tranh Napoléon, Pháp đã trải qua nhiều lần thay đổi chế độ, từ chế độ quân chủ, sau đó lại chuyển thành một nền cộng hòa (Cộng hòa thứ hai), và sau đó là một Đế chế thứ hai, cho đến khi Cộng hòa thứ ba tồn tại lâu dài hơn được thành lập vào năm 1870.

Pháp là một trong những cường quốc phe Hiệp ước trong Thế chiến I, chiến đấu bên cạnh Vương quốc Anh, Nga, Ý, Nhật Bản, Hoa Kỳ và các đồng minh nhỏ hơn chống lại Đức và các quốc gia phe Trung tâm .

Pháp là một trong những quốc gia thuộc Khối Đồng minh trong Thế chiến II, nhưng họ đã bị Đức Quốc xã đánh cho đại bại vào năm 1940. Nền Cộng hòa thứ ba sụp đổ, và hầu hết đất nước bị sáp nhập vào lãnh thổ Đức trong khi miền nam bị kiểm soát bởi chính phủ bù nhìn Vichy cho đến năm 1942. Điều kiện sống rất khắc nghiệt khi Đức vơ vét hết nguồn lương thực và nhân lực, và nhiều người Do Thái đã bị giết hại. Charles de Gaulle lãnh đạo phong trào Pháp quốc tự do, dựa vào lực lượng hải ngoại tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Đức . Sau khi Pháp được quân Đồng minh giải phóng vào mùa hè năm 1944 và thế chiến II kết thúc, nền Cộng hòa thứ tư được thành lập. Pháp từ từ phục hồi kinh tế, và trải qua sự bùng nổ dân số. Các cuộc chiến tranh kéo dài ở Đông Dương và Algeria đã làm cạn kiệt nguồn lực của Pháp và kết thúc với thất bại về chính trị cho nước này. Cuộc khủng hoảng tháng Năm năm 1958 đã dẫn tới sự sụp đổ của Đệ Tứ Cộng hòa Pháp, Charles de Gaulle sau đó đã thành lập Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp. Vào những năm 1960, quá trình phi thực dân hóa đã dẫn đến hầu hết các thuộc địa của đế chế thực dân Pháp giành độc lập. Kể từ sau Thế chiến II, Pháp là thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp QuốcNATO. Pháp đóng một vai trò trung tâm trong quá trình hình thành Liên minh châu Âu. Mặc dù sự tăng trưởng kinh tế đã chậm lại trong những năm gần đây, Pháp vẫn là một thế lực kinh tế, văn hóa, quân sự và chính trị quan trọng của thế kỷ 21.

Thời tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo John T. Koch và nhiều nhà khoa học khác, nước Pháp thời đại đồ đồng là một phần của hệ thống trao đổi thương mại gần biển gọi là Thời đại đồ đồng Đại Tây Dương, trong đó bao gồm cả Anh, Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha nơi mà các nhóm ngôn ngữ Celt phát triển.[1][2][3][4][5][6][7]

Các công cụ bằng đá được phát hiện tại Chilhac (1968) và Lézignan-la-Cèbe năm 2009 chỉ ra rằng tổ tiên của loài người có thể đã có mặt ở Pháp ít nhất 1,6 triệu năm trước. [8]

Người Neanderthal đã có mặt ở châu Âu từ khoảng 400.000 trước Công nguyên, [9] nhưng đã tuyệt chủng cách đây khoảng 30.000 năm, có thể là do bị những người Homo sapiens tiêu diệt. Những người hiện đại sớm nhất - Homo sapiens - đã di cư vào châu Âu cách đây 43.000 năm. [10] Các bức tranh hang động ở Lascaux và Gargas (Gargas ở Hautes-Pyrénées ) là những di tích khảo cổ quan trọng của thời này. Các ghi chép lịch sử đầu tiên xuất hiện vào thời đại đồ sắt, khi đó khu vực nước Pháp ngày nay là một khu vực được biết đến là Gallia hay còn gọi là Gaul đối với người Hy Lạp và La Mã cổ đại. Người Hy Lạp và La Mã đã chú ý tới sự xuất hiện của ba dân tộc chính ở khu vực này, đó là người Gallia, người Aquitani, và người Belgae. Người Gallia (Gaul), bộ tộc lớn nhất và được chứng thực rõ ràng nhất, là nhóm người Celt nói thứ tiếng được gọi là tiếng Gallia. Qua tiến trình lịch sử của thiên niên kỷ đầu tiên TCN, người Hy Lạp, La MãCarthaginia đã thành lập các thuộc địa trên bờ biển Địa Trung Hải và các đảo ngoài khơi. Cộng hòa La Mã đã sáp nhập vùng nam Gaul thành tỉnh Gallia Narbonensis vào cuối thế kỷ thứ II TCN, quân đội La Mã dưới sự chỉ huy của Julius Caesar đã chiếm đóng phần còn lại của Gaul trong các cuộc Chiến tranh xứ Gallia từ năm 58 tới năm 51 TCN. Sau đó nền văn hóa La Mã-Gallia nổi lên và Gaul dần hòa nhập vào Đế chế La Mã.

Thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Thuộc địa của Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng xu bạc Massalia (hiện đại của Marseille ) với truyền thuyết Hy Lạp, một minh chứng cho người Hy Lạp ở thời tiền La Mã, thứ 5 thế kỷ 1 trước Công nguyên

Vào năm 600 trước Công nguyên, những người Hy Lạp Ionia tới từ Phocaea đã thành lập thuộc địa Massalia (ngày nay là Marseille ) trên bờ biển Địa Trung Hải, khiến nó trở thành thành phố lâu đời nhất của Pháp. [11] [12] Đồng thời, một số bộ lạc Celt đã xâm nhập vào phần phía đông của lãnh thổ Pháp hiện tại, nhưng sự chiếm đóng này chỉ lan rộng ra phần còn lại của Pháp vào giữa thế kỷ 5 và 3 trước Công nguyên. [13]

Gaul[sửa | sửa mã nguồn]

Bao phủ phần lớn nước Pháp, Bỉ, tây bắc nước Đức và miền bắc nước Ý ngày nay, vùng Gaul thời kỳ này là nơi định cư của nhiều bộ lạc khác nhau mà người La Mã gọi chung là người Gallia hay người Gaul. Người Celt đã thành lập nên các thành phố như Lutetia Parisiorum (Paris) và Burdigala (Bordeaux) trong khi người Aquitani thành lập nên Tolosa (Toulouse).  Các nhà thám hiểm tới từ Hy Lạp đã định cư ở nơi sẽ trở thành Provence về sau. Người Hi Lạp thành lập nên các thành phố quan trọng như Massalia (Marseille) và Nikaia (Nice), họ cũng có xung đột với người Celt và Liguria ở các vùng lân cận. Một số nhà thám hiểm vĩ đại người Hi Lạp, chẳng hạn như Pytheas, được sinh ra ở Marseille.

Một đội quân người Gaul do Brennus lãnh đạo đã chiếm được Rome vào năm 388 trước Công nguyên sau Trận chiến Allia. Tuy nhiên, xã hội bộ lạc của người Gaul không thích ứng đủ nhanh với nhà nước La Mã tập trung, những người La Mã về sau đã tìm ra cách chống lại họ. Liên minh các bộ lạc xứ Gaul sau đó đã bị người La Mã đánh bại trong các trận chiến như ở Sentinum và Telamon trong thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.

Khi chỉ huy quân CarthageHannibal Barca gây chiến với người La Mã, ông đã tuyển mộ một số lính đánh thuê người Gaul chiến đấu về phe mình tại Cannae . Chính sự tham gia của người Gaul trong cuộc chiến này đã khiến Provence bị Cộng hòa La Mã sáp nhập vào năm 122 trước Công nguyên. Sau đó, Julius Caesar đã đem quân chinh phục toàn bộ vùng Gaul. Bất chấp sự phản kháng của người Gaul do Vercingetorix lãnh đạo, các bộ lạc người Gaul đã nhanh chóng bị khuất phục bởi cuộc tấn công của La Mã. Người Gaul có một số thành công lúc đầu tại Gergovia, nhưng cuối cùng đã bị đánh bại tại Alesia vào năm 52 trước Công nguyên. [14]

Gaul dưới sự cai trị của La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Gaul bị người La Mã chia thành nhiều tỉnh khác nhau. Người La Mã đã tách rời các khu dân cư để ngăn chặn bản sắc địa phương trở thành mối đe dọa đối với sự kiểm soát của La Mã. Do đó, nhiều người Celt đã bị trục xuất khỏi Aquitania hoặc bị bắt làm nô lệ và phải rời khỏi Gaul. Gaul vẫn nằm dưới sự cai trị của La Mã trong nhiều thế kỷ và nền văn hóa Celtic sau đó dần được thay thế bằng nền văn hóa kết hợp Gallic-La Mã.

Gaul ngày càng bị đồng hóa vào Đế chế La Mã theo thời gian. Chẳng hạn, các vị tướng La Mã Marcus Antonius Primus và Gnaeus Julius Agricola đều sinh ra ở Gaul, cũng như các hoàng đế ClaudiusCaracalla. Hoàng đế Antoninus Pius cũng xuất thân từ một gia đình người Gaul.

Năm 418, tỉnh Aquitanian đã được người La Mã trao cho người Goth để đổi lấy sự ủng hộ của họ chống lại những người Vandal. Những người Goth đã cướp phá Rome vào năm 410 và thành lập thủ đô ở Toulouse.

Đế chế La Mã gặp khó khăn trong việc đối đầu với các cuộc tấn công của người man tộc, và Flavius Aëtius phải kích động các bộ lạc man tộc này gây chiến với nhau để duy trì sự kiểm soát của La Mã. Đầu tiên ông ta sử dụng người Hung Nô chống lại người Burgundy, và những người lính đánh thuê này đã tiêu diệt Worms, giết vua Gunther và đẩy người Burgundy về phía tây. Người Burgundy đã được tái định cư bởi Aëtius gần Lugdunum vào năm 443. Người Hung Nô, được lãnh đạo bởi Attila, trở thành mối đe dọa lớn hơn và Aëtius đã sử dụng người Visigoth để chống lại người Hung Nô. Cuộc xung đột lên đến đỉnh điểm vào năm 451 tại Trận chiến Châlons, trong đó người La Mã và người Visigoth đã đánh bại Attila.

Khi đế chế La Mã đang trên bờ vực sụp đổ, vùng Aquitania đã bị bỏ rơi cho người Visigoth, người Visigoth về sau đã chinh phục một phần miền nam Gaul cũng như hầu hết bán đảo Iberia. Người Burgundy đã tuyên bố vương quốc của riêng họ, và miền bắc Gaul thực tế đã rơi vào tay người Frank. [15]

Sơ kỳ Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Frank (481 - 843)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đế quốc Frank

Bài chi tiết: Nhà Merowinger (Merovingian)

Trận Tolbiac năm 496, một trong những chiến thắng oanh liệt của người Frank.

Vương triều Merovingian (481 - 751)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Đế quốc Tây La Mã bị sụp đổ vào năm 480, nhiều vùng đất được giải phóng. Tại Châu Âu, nhiều vương quốc được thành lập. Năm 481, vua Clovis I của dòng họ Merovigian chính thức thành lập Đế quốc Francia, hay Đế quốc Frank, đặt kinh đô ở Paris. Trong thời kì cai trị của mình, ông đã chỉ huy người Frank đánh thắng nhiều trận trước Vương quốc Visigoth, tiêu biểu là trận Tolbiac (496)Trận Vouillé (507). Ông đã góp phần đưa Đế quốc của người Frank bước vào thời huy hoàng.

Năm 511, vua Clovis qua đời, để lại vùng đất của mình cho ba người con: Childebert, Clothair và Theuderic. Theo nhiều sử sách thời đó, sau khi vua Clovis qua đời, Childebert lên ngôi vua, tức vua Childebert I. Lý do được đưa ra là do phần đất của ông được vua Clovis ban cho có cả vùng Soissons, tức là thủ đô của Đế quốc Frank thời đó, nên theo tục lệ, ai có được thủ đô thì lên làm vua. Trên thực tế, chính Childebert đã đem quân thu phục vùng đất của hai người còn lại rồi mới lên ngôi vua, chứ không có chuyện "có thủ đô thì lên làm vua".

Sau khi Childebert I qua đời năm 558, Clothair lên ngôi, tức vua Clothair I. Ông chỉ trị vì được chưa đến 3 năm thì mất, để lại đất cho bốn hoàng tử: Charibert, Chilperic, Sigebert và Guntram, con cả của vua Clothair I. Sau khi hoàn thành thôn tính ba người còn lại, Guntram lên ngôi vua, tức vua Clothair II vào năm 613. Năm 629, xứ Aquitaine tách khỏi Đế quốc Frank, trở thành một vương quốc độc lập. Cùng trong năm đó, ông qua đời, nhường ngôi cho con sau này là Dagobert I. Trong thời kỳ này, quyền lực của các vị vua bị suy yếu, quyền lực thực sự tập trung vào tay vị cố vấn trưởng của nhà vua là Quản thừa. Những kẻ xâm lược Hồi giáo đã chinh phục Hispania (Tây Ban Nha) và đe dọa trực tiếp tới Đế quốc Frank, trước mối nguy đó một vị Quản thừa tên là Charles Martel đã lãnh đạo người Frank đập tan cuộc xâm lăng của đạo Hồi trong Trận Tours. Chiến thắng này đã đem lại cho Martel sự tôn trọng cũng như quyền lực trong Đế quốc Frank.

Dòng họ Merovingian vẫn thống trị người Frank cho đến năm 751, khi vua Pépin Lùn thuộc dòng họ Karolinger lên ngôi. Vương triều Merovingian chính thức chấm dứt vai trò của mình trong lịch sử Pháp, sau hơn 300 năm tồn tại và 270 năm thống trị Đế quốc Frank, trải qua 4 đời vua và 2 lần bị chia cắt. Nhà Merovingian đã góp phần đưa người Frank lên làm bá chủ Châu Âu thời bấy giờ.

Đế quốc Frank dưới thời vua Pepin Lùn (751 - 768)[sửa | sửa mã nguồn]

Charlemagne "Đại đế" của Đế quốc Frank

Triều đại Karolinger được xem như là triều đại đã đưa Đế quốc Frank lên đến đỉnh cao của sự thịnh vượng, nhưng cũng chính triều đại này đã đặt dấu chấm hết cho Đế quốc Frank.

Louis "Ngoan Đạo", vị vua cuối cùng của Đế quốc Frank

Pepin Lùn của dòng họ Karolinger lên trị vì Đế quốc Frank từ năm 751. Ông đã có công sáp nhập vùng đất Aquitaine cho vương quốc của mình. Tuy vậy ông chỉ được mọi người tặng cho cái biệt hiệu là "Lùn" vì cái bình diện mà ông....không hề muốn chút nào. Đáng lẽ ra ông nên được gọi tên là Pepin "Đại đế". Trong suốt thời kì trị vì của ông, đất nước thái bình thịnh trị, kinh tế phát triển, chất lượng đời sống của nhân dân được lên cao.

Đế quốc Frank sau cái chết của vua Charlemagne năm 814. (Phần xanh nhạt là các nước chư hầu của Đế quốc Frank.)

Năm 768, vua Pepin Lùn qua đời, để lại vùng đất cho hai hoàng tử: Charlemagne và Carloman. Năm 771, Charlemagne tiêu diệt Carloman thành công, chính thức lên ngôi vua.

Đế quốc Frank dưới thời vua Charlemagne Đại đế (771 - 814)[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại của vua Charlemagne được xem như là triều đại thịnh vượng nhất trong lịch sử Đế quốc Frank. Vào năm 771, Charlemagne đã thống nhất toàn bộ lãnh thổ của người Frank sau một thời gian dài bị chia cắt, sau đó ông chinh phục vương quốc Lombardia ở miền bắc nước Ý ngày nay vào năm 774, sáp nhập vùng Bavaria vào đế quốc của ông (788), chinh phục xứ Avar (796), gây chiến với nước Tây Ban Nha Hồi giáo và chiếm Barcelona (801), chinh phục người Sachsen sau một chiến dịch kéo dài (804). Đế quốc Frank trở nên cực thịnh, lãnh thổ của đế quốc Frank lúc này bao gồm hầu hết đất đai của đế quốc La Mã xưa kia, chạy dài từ phía Nam dãy Pyrénées (Tây Ban Nha) đến sông Elbe và Boen (Đức), từ Địa Trung Hải cho tới Bắc Hải.

Để ghi nhận những vinh quang của ông và sự hỗ trợ đắc lực của ông cho Giáo hoàng, Giáo hoàng Leo III đã trao vương miện Hoàng đế của người La Mã, hay Hoàng đế La Mã ở phương Tây cho Charlemagne vào năm 800.

Sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Charlesmagne qua đời, con trai ông là Louis Mộ đạo nối ngôi. Khi Louis qua đời vào năm 840, một cuộc nội chiến đẫm máu giữa ba người con trai của Louis đã diễn ra. Vào năm 843, ba người đã đi đến một thỏa thuận được gọi là Hiệp ước Verdun . Theo đó đế quốc Frank sẽ bị chia nhỏ thành ba vương quốc riêng biệt cho mỗi người:

Vua Philippe II Augustus

Trung kỳ và Hậu kỳ Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều Capet (987-1328)[sửa | sửa mã nguồn]

Cái gọi là nước Pháp ngày nay thực sự được khai sinh từ cuộc bầu cử công tước Hugh Capet lên ngôi "Vua của người Frank" bởi một hội nghị được triệu tập tại Reims năm 987, khởi đầu triều đại Capet sẽ cai trị Vương quốc Pháp cho đến năm 1328. Mặc dù là vua nhưng Hugh Capet chỉ thực sự nắm quyền cai trị một vùng đất có diện tích 400 dặm vuông (1.000 km 2) bao gồm Paris và các vùng lân cận. Nhiều chư hầu của nhà vua (bao gồm cả các các vị vua người Anh) cai trị các vùng lãnh thổ lớn hơn nhiều so với ông.

Pháp trở thành một quốc gia rất phân quyền: các tước hiệu và lãnh địa của giới quý tộc được thừa kế, còn quyền lực của quốc vương mang tính tôn giáo hơn là thế tục, do đó kém hiệu quả và luôn gặp thách thức trước giới quý tộc quyền lực. Do đó, chế độ phong kiến phân quyền được hình thành tại Pháp. Theo thời gian, một số chư hầu phát triển mạnh đến nỗi họ thường gây ra mối đe doạ cho quốc vương.

Từ thời vua Louis VI (trị vì 1108-37) trở đi, quyền lực của nhà vua đã trở nên mạnh mẽ hơn. Louis VI được mô tả là môt vị vua đầy tham vọng, ông đã nỗ lực để củng cố quyền lực của hoàng gia. Từ năm 1127 trở đi Louis có sự cố vấn của một chính khách tôn giáo tên là Abbot Suger. Những lời khuyên chính trị của Suger là vô cùng quý giá đối với nhà vua. Louis VI đã giành thắng lợi cả về quân sự và chính trị trước những tên lãnh chúa bất hợp pháp. Louis VI thường xuyên triệu tập các chư hầu của mình, và những chư hầu không xuất hiện thường bị ông tịch thu đất đai hoặc nghiêm trọng hơn ông sẽ mở một chiến dịch quân sự chống lại họ. Chính sách quyết liệt này rõ ràng đã áp đặt uy quyền của hoàng gia đối với Paris và các khu vực lân cận. Khi Louis VI qua đời vào năm 1137, quyền lực của nhà Capet đã được nâng cao rõ rệt.

Abbot Suger còn được biết tới bởi việc phổ biến một phong cách kiến trúc mới mà được gọi là kiến trúc Gothic. Phong cách này đã trở thành tiêu chuẩn cho hầu hết các nhà thờ châu Âu được xây dựng vào cuối thời Trung cổ.

Vương quốc Pháp dưới thời vua Philip II Augustus[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại của Philip II Augustus (1180-1223) đã đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử quân chủ Pháp. Dưới triều đại của ông, lãnh địa và ảnh hưởng của hoàng gia Pháp được mở rộng đáng kể. Từ năm 1190 trở đi, Philip đã trở thành vị vua đầu tiên tự phong mình là "Vua của Pháp". Philippe là một trong những vị vua vĩ đại nhất của nhà Capet. Ông xâm lược Đế quốc Angevin hùng mạnh và đánh bại một liên minh các kẻ thù gồm có Đức, Vlaanderen và Anh trong trận Bouvines năm 1214. Ông cải tổ lại chính quyền, mang lại sự ổn định tài chính cho quốc gia và biến nước Pháp từ một quốc gia phong kiến nhỏ bé trở thành một quốc gia thịnh vượng và hùng mạnh bậc nhất châu Âu. Nhà vua được dân mến mộ vì trong triều đại của mình, Philippe đã kiểm soát quyền lực của nhóm quý tộc và trao các đặc quyền cho tầng lớp trung lưu mới nổi. Philip Augustus cũng đã cho thành lập Đại học Sorbonne và biến Paris thành một thành phố dành cho các học giả.

Cuộc khủng hoảng cuối thời Trung Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối thế kỷ 14, Pháp rơi vào suy thoái kinh tế. Sản xuất nông nghiệp đình trệ khi dân số tiếp tục tăng. Sự cạn kiệt của các mỏ vàng và bạc cản trở sự phát triển của tiền tệ và thương mại. Đầu thế kỷ 14 cho tới cuối thế kỷ 15 cả châu Âu trải qua một kỷ băng hà nhỏ: mùa đông trở nên dài hơn và lạnh hơn, trong khi mùa hè mát và ẩm ướt hơn, làm cho nhiều loại hoa màu bị thối rữa. Các cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến tình trạng bất ổn chính trị và xã hội.

Trong những năm 1315 - 1317, thời tiết xấu dẫn đến thu hoạch không đủ. Giá ngũ cốc ngày càng tăng, tạo ra nạn đói khủng khiếp mà người nông dân nghèo phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Các tài liệu thời đó cũng ghi lại rằng những con chó sói đã chạy vào thành phố để nuôi sống bản thân chúng vì chính chúng là con mồi.

Từ năm 1348, bệnh dịch hạch bùng phát (Cái Chết Đen), gây ra cái chết của gần một phần ba dân số Pháp. Các cuộc nổi loạn của dân nghèo liên tục xảy ra.

Tuy vậy cuộc khủng hoảng cũng có những mặt tích cực. Những nông dân và thợ thủ công còn sống sót sau nạn đói và bệnh dịch hạch đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của họ, khi mà sự khan hiếm lao động buộc giới chủ phải tăng lương cho họ. Giới quý tộc suy tàn, trong khi giai cấp tư sản ngày càng có ảnh hưởng lớn.

Sự kết thúc của vương triều Capet và Chiến tranh Trăm năm (1337-1453)[sửa | sửa mã nguồn]

Joan of Arc, nữ anh hùng dân tộc của nước Pháp. Sự xuất hiện của nàng đã đem lại bước ngoặt cho cuộc Chiến tranh Trăm năm.

Chiến tranh Trăm năm là một loạt các trận chiến diễn ra từ năm 1337-1453 giữa nhà ValoisNhà Plantagenet để tranh giành ngai vàng của nước Pháp khi vị vua cuối cùng của nhà Capet là Charles IV qua đời mà không có ai nối ngôi (nhà vua không có bất kỳ một người con hay nguoi anh em trai nào, trong khi một nguyên tắc được xác lập từ năm 1316 đã cấm phụ nữ kế vị ngai vàng của nước Pháp). Cai chết của Charles IV khiến cho nhà Capet coi như đã tuyệt tự, do đó Nhà Valois tuyên bố kế thừa ngai vị Vua của Pháp. Nhà Plantagenet không chấp nhận điều này và cho rằng họ mới là gia tộc có quyền nắm giữ ngai vàng của Vương quốc Pháp. Các vị vua Nhà Plantagenet là những người cai trị Vương quốc Anh từ thế kỷ 12, tuy vậy họ lại có nguồn gốc từ các vùng AnjouNormandy của Pháp. Nhà Plantagenet không chỉ nắm giữ ngai vàng nước Anh, mà họ còn sở hữu rất nhiều vùng lãnh địa ở Pháp, điều này khiến họ trở thành chư hầu của các vị vua nhà Capet trong nhiều thế kỷ. Khi triều đại Capet kết thúc, họ đòi quyền tiếp nối ngai vàng, dẫn tới xung đột với Nhà Valois. Mỗi bên đã thu hút nhiều đồng minh vào cuộc chiến. Đây là một trong những cuộc xung đột đáng chú ý nhất thời Trung cổ, khi mà năm thế hệ của các vị vua từ hai triều đại đối địch đã tranh giành nhau quyền cai trị vương quốc lớn nhất Tây Âu.

Cuộc xung đột kéo dài 116 năm nhưng vẫn được xen vào bởi một số thời kỳ hòa bình, trước khi cuối cùng nó kết thúc với việc trục xuất Nhà Plantagenets ra khỏi nước Pháp (ngoại trừ hạt Calais). Cuộc chiến cuối cùng là một chiến thắng cho nhà Valois, những người đã thành công trong việc chiếm lấy quyền kiểm soát mà nhà Plantagenet nắm giữ lúc ban đầu và trục xuất phần lớn người Anh ra khỏi nước Pháp vào những năm của thập kỷ 1450. Nhà Plantagenets đã giành được nhiều thắng lợi áp đảo trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, đặc biệt là tại Crécy, PoitiersAgincourt. Tuy nhiên, các vị vua Anh đã không bao giờ có thể hoàn tất cuộc chinh phạt nước Pháp. Bắt đầu từ năm 1429, những chiến thắng quyết định của Pháp tại Trận Orléans (dưới sự chỉ huy của một cô gái 18 tuổi tên là Jeanne d'Arc), Trận Patay, Trận FormignyTrận Castillon đã kết thúc cuộc chiến tranh với thắng lợi cho Nhà Valois, còn người Anh thì chấp nhận mất vĩnh viến hầu hết lãnh thổ của họ trên lục địa châu Âu.

Cuộc chiến tranh có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, đánh dấu đỉnh cao của của thời đại hiệp sĩ cũng như sự suy tàn của nó, cũng như phát triển mạnh mẽ bản sắc dân tộc ở cả hai quốc gia PhápAnh. Về mặt quân sự, nó cũng đã thấy sự ra đời của những loại vũ khí mới và những chiến thuật mới. Lần đầu tiên quân đội thường trực được sử dụng trong chiến tranh ở Tây Âu kể từ thời điểm Đế quốc Tây La Mã sụp đổ, do đó nó đã thay đổi vai trò của nông dân. Bởi tất cả những đặc điểm này, cũng như khoảng thời gian kéo quá dài của nó, nó thường được xem là cuộc xung đột quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh thời Trung cổ.

Ancien Régime (1453–1789)[sửa | sửa mã nguồn]

Xã hội Pháp thời kỳ Ancient Regime[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Pháp thời kỳ Ancien Régime có diện tích lãnh thổ khoảng 520.000 km2 (200.000 dặm vuông), với dân số 13 triệu người vào năm 1484 và 20 triệu người vào năm 1700. Pháp có dân số lớn thứ hai ở châu Âu vào những năm 1700, trong khi Anh chỉ có 5 hoặc 6 triệu, Tây Ban Nha có 8 triệu và Áo có 8 triệu [16].

Quyền lực chính trị bị phân tán rộng rãi khi mà phần lớn sự tập trung hóa chính trị thời Trung cổ của Pháp đã bị mất trong chiến tranh Trăm năm. Nhà vua chỉ có khoảng 10.000 quan lại phục vụ dưới trướng mình - thực sự rất ít cho một đất nước rộng lớn như vậy. Thông tin liên lạc nội bộ rất chậm, và di chuyển trong cả nước thường nhanh hơn khi đi bằng tàu biển hoặc thuyền sông .[17].

Đại biểu của các tầng lớp khác nhau trong vương quốc - giáo sĩ, quý tộc và thường dân - thỉnh thoảng họp mặt với nhau trong cái gọi là "Hội nghị Tam Đẳng", nhưng trên thực tế, những thành viên của Hội nghị này không có quyền lực, vì họ chỉ có thể kiến nghị với nhà vua nhưng không thể thông qua luật pháp.

Giáo hội Công giáo nắm giữ khoảng 40% tài sản trong cả nước, cùng với các khoản tài trợ dài hạn từ hoàng gia mà chỉ có thể tăng chứ không thể giảm. Nhà vua (không phải giáo hoàng) là người đề cử các giám mục, nhưng thường phải thương lượng với các gia đình quý tộc có quan hệ mật thiết với các tu viện và nhà thờ địa phương.

Giới quý tộc đứng thứ hai về sự giàu có, nhưng không có sự thống nhất. Mỗi quý tộc có lãnh địa riêng, mạng lưới kết nối khu vực và lực lượng quân sự của riêng mình .[17]. Các thành thị có vị thế gần như hoàn toàn độc lập, và phần lớn được kiểm soát bởi giới thương nhân và các phường hội lớn. Paris là thành phố lớn nhất với 220.000 người vào năm 1547 và có lịch sử phát triển ổn định. LyonRouen mỗi thành chỉ có khoảng 40.000 dân, nhưng Lyon có một cộng đồng ngân hàng hùng mạnh và một nền văn hóa sôi động. Tiếp theo là Bordeaux với khoảng 20.000 dân trong năm 1500 [17].

Nông dân là tầng lớp chiếm đại đa số. Năm 1484, khoảng 97% trong số 13 triệu người Pháp sống ở các làng quê; vào năm 1700, ít nhất 80% trong số 20 triệu dân Pháp là những người nông dân.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời Phục hưng, ngôn ngữ nói ở phía bắc nước Pháp là một tập hợp các phương ngữ khác nhau được gọi là tiếng Oïl trong khi ngôn ngữ viết và ngôn ngữ hành chính vẫn là tiếng Latin. Vào thế kỷ 16, đã phát triển một hình thức tiêu chuẩn của tiếng Pháp (được gọi là tiếng Pháp trung cổ), là cơ sở của tiếng Pháp "hiện đại". Mặc dù hầu hết nông dân ở Pháp vẫn sử dụng ngôn ngữ địa phương, tiếng Pháp trở nên phổ biến tại các đô thị như Paris, dần trở thành một thứ ngôn ngữ chính thức của quốc gia và được ưa chuộng bởi giới quý tộc châu Âu. Hoàng đế La Mã thần thánh Charles V (sinh năm 1500) đã từng nói một câu đầy châm biếm: "Ta nói tiếng Tây Ban Nha với Chúa, tiếng Ý với phụ nữ, tiếng Pháp với đàn ông và tiếng Đức với con ngựa của ta" [18]

Vị thế quốc tế của tiếng Pháp ngày càng được nâng cao đã thôi thúc nhiều học giả tiến hành cải cách tiếng Pháp để làm cho nó mang tính thống nhất hơn. Nhà văn Pháp thời Phục hưng François Rabelais (sinh năm 1494) đã định hình tiếng Pháp như là ngôn ngữ của văn học. Jacques Peletier du Mans (sinh năm 1517) là một trong những học giả cải cách tiếng Pháp nổi tiếng.

Văn hóa Pháp thời Phục hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Những phát triển đáng chú ý trong thời kỳ Phục hưng của nước Pháp bao gồm sự truyền bá chủ nghĩa nhân văn, quá trình thám hiểm "Tân thế giới" (thuộc địa Tân Pháp hay còn gọi là New France đã được Jacques Cartier thành lập ở Bắc Mỹ vào năm 1534); sự phát triển của các kỹ thuật mới và của các hình thức nghệ thuật khác nhau như in ấn, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, khoa học và văn học; cùng với đó là xây dựng nên các quy tắc mới về xã hội, nghi thức và diễn ngôn.

Trong lĩnh vực hội họa-điêu khắc, có một số nghệ sĩ người Pháp đáng kinh ngạc xuất hiện trong thời kỳ này, bao gồm họa sĩ Jean Fouquet xứ Tours và các nhà điêu khắc Jean GoujonGermain Pilon.

Về kiến trúc, một trong những thành tựu lớn nhất của thời Phục hưng Pháp là việc xây dựng Châteaux of the Valley Valley (các lâu đài của thung lũng Loire). Lâu đài Louvre cũ ở Paris cũng được xây dựng lại dưới sự chỉ đạo của Pierre Lescot và sẽ trở thành cốt lõi của một tòa lâu đài thời Phục hưng hoàn toàn mới. Ở phía tây của Louvre, Catherine de Medici đã cho xây dựng điện Tuileries. Thời kỳ trị vì của Henry IV đã mang đến một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các công trình kiến trúc đô thị lớn ở Paris, bao gồm việc xây dựng cây cầu Pont Neuf bắc qua sông Seine vô cùng nổi tiếng, hay các công trình nổi bật khác như Place des Vosges, Place Dauphine và một phần của Louvre (trong đó có Phòng trưng bày lớn).

Về văn học Pháp thời Phục hưng, nổi tiếng nhất có lẽ là kiệt tác Gargantua và Pantagruel của nhà văn François Rabelais.

Về âm nhạc Phục hưng Pháp, cái tên tiêu biểu nhất là nhà soạn nhạc lừng danh Josquin des Prez. Đóng góp đáng kể nhất của nước Pháp cho nền âm nhạc thời kỳ Phục hưng là một thể loại có tên chanson. Chanson là một loạt các bài hát mang tính thế tục, có nội dung rất đa dạng, và là một trong những thể loại nhạc phổ biến nhất ở châu Âu trong thế kỷ 16.

Mở rộng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Với cái chết vào năm 1477 của Charles Hói, Pháp và Habsburg đã bắt đầu một quá trình dài chia cắt vùng đất Burgundia giàu có của mình, dẫn đến nhiều cuộc chiến. Năm 1532, vùng Brittany được sáp nhập vào Vương quốc Pháp.

Pháp tham gia vào các cuộc chiến tranh Ý (1494 - 1559) với Đế chế La Mã thần thánh. Kết thúc cuộc chiến, Pháp đã buộc phải từ bỏ yêu sách của mình ở Ý nhưng bù vào đó giành được ba thành phố là Metz, ToulVerdunLorraine. Đô đốc Ottoman là Barbarossa chiếm được vùng Nice vào năm 1543 và giao lại vùng đất này cho vua Pháp Francis I.

Trong thế kỷ 16, gia tộc Habsburg cai trị Tây Ban NhaÁo nắm quyền lực thống trị ở châu Âu và có nhiều cuộc xung đột với Vương quốc Pháp. Vào ngày 7 tháng 1 năm 1558, Công tước Guise đã chiếm được Calais từ tay Anh, chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện của người Anh trên đất Pháp.

Chiến tranh tôn giáo Pháp (1562 – 1598)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Tôn giáo Pháp là một chuỗi các cuộc xung đột giữa những người Công giáo và những người Tân giáo (Huguenot) tại Vương quốc Pháp từ năm 1562 đến năm 1598. Ngoài những yếu tố tôn giáo, cuộc chiến này là cũng là một cuộc tranh chấp nhằm giành quyền kiểm soát nước Pháp giữa Nhà Giuse (Công giáo) và Nhà Bourbon (Tân giáo). Người ta ước tính rằng ba triệu người Pháp thiệt mạng trong cuộc chiến vô cùng đẫm máu này. Đây là cuộc xung đột tôn giáo lớn thứ hai trong lịch sử châu Âu (chỉ đứng sau Chiến tranh ba mươi năm).

Sự phát triển của Tân giáo tại Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi tư tưởng cải cách của Martin Luther được truyền bá vào Pháp khoảng năm 1520, Vua François I tỏ ra khoan hòa đối với các nhà cải cách trong nước. Nhưng sau khi xảy ra Vụ Áp phích (tranh cổ động chống Công giáo xuất hiện ở Paris và bốn thành phố khác) trong năm 1534, nhà vua cảm thấy bị đe dọa, và bắt đầu công khai chống những người Tân giáo. Một trong số những người Tân giáo tại Pháp thời đó, John Calvin, phải tìm đến tị nạn ở Geneva. Tại đây, Calvin đã khởi đầu một nhánh mới của Tân giáo đó là Thần học Calvin. Trong thời trị vì của vua Henry II (1547 – 1559), Thần học Calvin thu hút nhiều người thuộc giới quý tộc, tầng lớp trung lưu, và những nhà trí thức. Dù chỉ là thành phần thiểu số ở Pháp, những người Tân giáo tại Pháp (được gọi chung là Huguenot) phần lớn là những người giàu có, ảnh hưởng rộng, và có lập trường chống Công giáo mãnh liệt nên bị nhiều người căm ghét.

Giai đoạn thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 1560, đức vua François II băng hà, mẹ ông là Catherine de' Medici trở thành nhiếp chính cho vị vua mới là đứa con trai thứ hai mới chỉ 10 tuổi của bà, Charles IX. Thiếu kinh nghiệm lẫn nguồn hỗ trợ tài chính, Catherine thấy cần phải cẩn thận lèo lái triều chính nhằm giữ thế cân bằng giữa các thế lực chính trị và lợi ích cục bộ vây quanh bà, khi mà các gia tộc đầy quyền lực đều có trong tay các đạo quân riêng. Mặc dù là một người Công giáo sùng tín, Catherine muốn gây thiện cảm với Nhà Bourbon theo Tân giáo nhằm duy trì sức mạnh đối trọng với Nhà Giuse sùng tín Công giáo có thế lực rất mạnh thời điểm đó.

Catherine đưa ra một số biện pháp nhượng bộ với người Huguenot để ngăn họ nổi loạn. Tháng 1 năm 1562, Chỉ dụ Saint-Germain được ban hành, cho phép người Huguenot có quyền thờ phụng trong nhà riêng và bên ngoài thành phố. Tuy nhiên, ngày 1 tháng 3, một nhóm tùy tùng của Nhà Giuse tấn công những người Huguenot khi họ đang thờ phượng tại Wassy-sur-Blaise ở Champagne và ra tay tàn sát họ. Biến cố này được gọi là "Thảm sát Wassy" và là nguyên nhân bùng nổ cuộc chiến tranh tôn giáo lần thứ nhất. Ngay sau đó, cuộc xung đột vũ trang giữa hai phe Tân giáo và Công giáo lan ra các nơi khác. Cuộc đụng độ diễn ra ác liệt cho đến khi Catherine dàn xếp một cuộc ngừng bắn và ban hành Chỉ dụ Amboise (1563).

Ngày 29 tháng 9 năm 1567, xảy ra vụ bạo loạn ở Michelade, những đám đông người Huguenot, do phẫn uất vì bị áp bức và cấm đoán hành đạo, đã tàn sát 24 linh mục và tu sĩ Công giáo. Hai biến cố này khơi mào cho chiến tranh tôn giáo lần thứ hai, kéo dài đến khi ký kết Hòa ước Longjumeau vào tháng 3 năm 1568 với một cuộc ngừng bắn mà cả hai phe đều không cảm thấy hài lòng.

Tháng 9 trong năm 1568, lại bùng nổ cuộc chiến lần thứ ba. Lần này Catherine và Charles quyết định liên kết với Nhà Guise. Quân đội Huguenot, dưới quyền thống lĩnh của Louis I de Bourbon, hoàng thân Condé, được hỗ trợ bởi đạo quân của Paul de Mouvans đến từ đông nam nước Pháp, cùng một đội dân binh Tân giáo đến từ Đức. Phần lớn nguồn tài chính của phe Huguenot được cung cấp bởi Nữ hoàng Anh Elizabeth I. Phe Công giáo đặt dưới quyền chỉ huy của Công tước d’Anjou (về sau là Henry III của Pháp), và nhận được sự hỗ trợ từ Tây Ban Nha, các lãnh thổ của giáo hoàng (Papal States), và Đại Công tước xứ Tuscany. Những món nợ khổng lồ của hoàng gia và mong muốn hòa giải của vua Charles IX giúp kiến tạo Hòa ước Saint-Germaine-en-Laye (8 tháng 8 năm 1570), lần này lại có thêm nhượng bộ cho phe Huguenot.

Giai đoạn 2[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 8, trong một phiên họp riêng của hoàng gia, Catherine và những người theo bà tin rằng phe Huguenot có thể đang chuẩn bị một vụ lật đổ, rồi họ quyết định, với sự chuẩn thuận của nhà vua, tiến hành một vụ đánh úp bằng cách ám sát một số nhà lãnh đạo Huguenot. Sáng sớm ngày 24 tháng 8, Công tước Guise đến chỗ trọ của Đô đốc Coligny (một lãnh tụ phe Huguenot), giết Coligny và vài người ở đó, ném xác Coligny qua cửa sổ rơi xuống đường. Đám đông người dân Paris xúm lại cắt xẻo xác Coligny, kéo lê trong bùn, ném xuống sông, treo lên giá, rồi thiêu. Trong năm ngày kế tiếp, thành phố trở nên hỗn loạn bởi người ta đổ xô đi săn tìm để tàn sát người Huguenot, kể cả phụ nữ và trẻ em, và cướp phá nhà cửa của họ.Trong vài tuần sau đó, cuộc tàn sát lan ra đến hơn chục thành phố khắp nước Pháp. Biến cố này được gọi là vụ Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy. Có lẽ khoảng 2.000 người Huguenot bị giết ở Paris, và trong vài tuần lễ kế tiếp, có thêm nhiều ngàn người thiệt mạng tại các tỉnh; tổng cộng, có khoảng 10.000 người bị sát hại trong vụ thảm sát. Cả Vua Felipe của Tây Ban Nha và Giáo hoàng Gregory XIII đều tuyên bố hài lòng với kết quả của vụ thảm sát, khiến người dân khắp châu Âu tức giận và tỏ ra kinh tởm.

Vụ thảm sát làm khởi phát cuộc chiến lần thứ tư. Xung đột tạm thời chấm dứt khi Công tước Anjou lên trị vì Ba Lan, và Chỉ dụ Boulogne được ban hành trong tháng 7 năm 1573. Người Tân giáo Pháp bị tước bỏ những quyền họ có trước đây.

Giai đoạn 3 và Cuộc chiến ba vua Henry[sửa | sửa mã nguồn]

Ba tháng sau khi Henry Anjou đăng quang làm vua Ba Lan, anh trai của ông, Charles IX, băng hà (tháng 5 năm 1574). Henry bí mật rời Ba Lan trở về Pháp. Tại Rheims năm 1575, ông được trao vương miện để trở thành Vua Henry III của Pháp, nhưng lúc này lại bùng nổ chiến tranh tôn giáo lần thứ năm. Xung đột kéo dài đến năm 1576 khi nhà vua ký Chỉ dụ Beaulieu với nhiều nhượng bộ dành cho người Tân giáo.

Chỉ dụ Beaulieu khiến Henry I, Công tước Guise, một người Công giáo cực đoan, vô cùng phẫn nộ. Ông đã tiến hành thành lập Liên minh Công giáo để phản đối. Cánh Guise kiên trì ủng hộ vua Tây Ban Nha, nhờ đó luôn duy trì vị thế vững chắc trong suốt thập niên 1580. Tuy nhiên, phe Huguenot đã củng cố lực lượng ở miền tây nam, và được các chính phủ Tân giáo ủng hộ, dù trong thực tế, Anh và Đức không chịu cung cấp nhiều quân binh. Vào cuối cuộc chiến lần thứ sáu (1576-1577), sau nhiều cuộc thương thảo, Henry III, với Hiệp ước Bergerac (còn gọi là "Chỉ dụ Poitiers"), buộc phải thu hồi hầu hết các nhượng bộ dành cho người Tân giáo chiếu theo Chỉ dụ Bealieu. Hai năm sau, lại bùng nổ cuộc chiến lần thứ bảy (1579-1580) – rồi chấm dứt trong sự bế tắc với Hiệp ước Fleix.

Tình trạng thỏa hiệp mong manh lại bị phá vỡ năm 1584, khi em trai nhà vua và là người kế vị ngai vàng, François, Công tước Anjou, từ trần. Bởi vì Henry III không có con trai, nên chiếu theo Luật Salic, người kế vị sẽ là Henry Navarre, một người Huguenot. Dưới áp lực của Công tước Guise, Henry III miễn cưỡng ban hành một chiếu chỉ trấn áp đức tin Kháng Cách và phủ quyết quyền kế vị của Henry Navarre.

Lúc đầu, nhà vua cố cộng tác với người đứng đầu Liên minh Công giáo nhằm hướng liên minh tới một cuộc dàn xếp qua thương thảo. Nhưng động thái này là điều không thể chấp nhận đối với các nhà lãnh đạo liên minh, họ chỉ muốn đập tan phe Huguenot. Tình hình càng trở nên tồi tệ cho đến khi bùng nổ cuộc chiến lần thứ tám (1585-1598). Bởi vì người lãnh đạo nhà Guise cũng có tên Henry, nên trong giai đoạn đầu, cuộc chiến được mệnh danh "Chiến tranh ba Henry".

Nhìn thấy Nhà Guise là mối đe dọa chính đối với vương quyền, Henri III quyết định ra tay trước. Ngày 23 tháng 12 năm 1588, tại Lâu đài Blois, Henry Guise bị ám sát theo lệnh của nhà vua. Nhưng Công tước Guise rất được yêu thích ở Pháp, nên liên minh Công giáo tuyên chiến với nhà vua. Henry III quyết định gia nhập lực lượng của người em họ, Henry Navarre, để chống lại Liên minh Công giáo.

Tháng 7 năm 1589, tại Saint-Cloud, một tu sĩ Dòng Dominican tên Jacques Clément xin gặp nhà vua và đâm vào bụng ông. Khi hấp hối, Henry III cho vời Henry Navarre đến, khẩn nài ông, vì quyền lợi quốc gia, hãy cải đạo sang Công giáo, và cảnh báo về hiểm họa chiến tranh kéo dài nếu Henry Navarre không chịu nghe theo lời khuyên của ông. Chiếu theo Luật Salic, nhà vua tuyên bố Henry Navarre là người kế vị, trở thành Henry IV của Pháp.

Tình hình nước Pháp năm 1589 là bất ổn và phức tạp. Tân vương Henry IV kiểm soát khu vực phía tây và phía nam, trong khi Liên minh Công giáo nhận được sự hỗ trợ của Tây Ban Nha thì nắm giữ phía bắc và phía đông. Nhận thấy không có cơ may cho một quân vương Tân giáo đăng quang ngay tại Paris, Henry IV đã thốt lên câu nói trứ danh Paris vaut bien une messe (Paris đáng cho một lễ misa). Năm 1593, Henry chính thức được nhận vào Giáo hội Công giáo Rôma, và được trao vương miện tại Chartres năm 1594.

Trong khi một số thành viên Liên minh Công giáo tiếp tục tranh đấu, nhiều người Công giáo khác hài lòng với quyết định cải đạo của nhà vua, dần dà cánh cực đoan cũng bị cô lập và mất ảnh hưởng. Rồi quân đội Tây Ban Nha cũng rút lui chiếu theo Hòa ước Vervins. Henry IV ra sức tái thiết nước Pháp đang nghèo đói tan tác bởi những xung đột nội bộ, và cố thống nhất lòng dân dưới vương quyền. Nỗ lực đầu tiên của nhà vua là mở các cuộc thương thảo nhằm ban hành Chỉ dụ Nantes. Chỉ dụ này là một dấu chỉ về tinh thần bao dung tôn giáo, trong thực tế đã mở ra một cuộc hưu chiến (dù miễn cưỡng) giữa các phe tranh chấp. Dù vậy, có thể xem Chỉ dụ Nantes là dấu mốc kết thúc cuộc chiến tranh tôn giáo kéo dài của nước Pháp.

Henry IV cùng cố vấn thân cận, Công tước Sully, nỗ lực tái thiết nước Pháp, và xây dựng một thời kỳ thái bình thịnh trị cho đất nước này. Tuy vậy về sau đức vua đã bị ám sát bởi Ravaillac, một kẻ Công giáo cuồng tín vào năm 1610.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Aberystwyth University - News. Aber.ac.uk (2010-07-30). Truy cập 2010-08-20.
  2. ^ “O'Donnell Lecture 2008 Appendix” (PDF). 
  3. ^ Koch, John (2009). Tartessian: Celtic from the Southwest at the Dawn of History in Acta Palaeohispanica X Palaeohispanica 9 (2009) (PDF). Palaeohispanica. tr. 339–351. ISSN 1578-5386. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  4. ^ Koch, John. “New research suggests Welsh Celtic roots lie in Spain and Portugal”. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ Cunliffe, Karl, Guerra, McEvoy, Bradley; Oppenheimer, Rrvik, Isaac, Parsons, Koch, Freeman and Wodtko (2010). Celtic from the West: Alternative Perspectives from Archaeology, Genetics, Language and Literature. Oxbow Books and Celtic Studies Publications. tr. 384. ISBN 978-1-84217-410-4. 
  6. ^ “Rethinking the Bronze Age and the Arrival of Indo-European in Atlantic Europe” (PDF). University of Wales Centre for Advanced Welsh and Celtic Studies and Institute of Archaeology, University of Oxford. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2010. 
  7. ^ Cunliffe, Barry (2008). A Race Apart: Insularity and Connectivity in Proceedings of the Prehistoric Society 75, 2009, pp. 55–64. The Prehistoric Society. tr. 61. 
  8. ^ Jones, Tim (17 tháng 12 năm 2009). “Lithic Assemblage Dated to 1.57 Million Years Found at Lézignan-la-Cébe, Southern France «”. Anthropology.net. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ “Ancient skulls trace Neanderthal evolution”. abc.net.au. 19 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  10. ^ Wilford, John Noble (2 tháng 11 năm 2011). “Fossil Teeth Put Humans in Europe Earlier Than Thought”. The New York Times. 
  11. ^ I. E. S. Edwards và đồng nghiệp biên tập (1970). The Cambridge Ancient History. Cambridge U.P. tr. 754. ISBN 9780521086912. 
  12. ^ Claude Orrieux; Pauline Schmitt Pantel (1999). A History of Ancient Greece. Blackwell. tr. 62. ISBN 9780631203094. 
  13. ^ Carpentier et al. 2000, p.29
  14. ^ Ad Familiares, 10, 23 read on line lettre 876
  15. ^ P. J. Heather, The Fall of the Roman Empire: A New History of Rome and the Barbarians (2007)
  16. ^ Pierre Goubert, The Ancien Régime (1973) pp. 2–9.
  17. ^ a ă â Frederick J. Baumgartner, France in the Sixteenth Century (1995) pp 4–7
  18. ^ George Santayana; William G. Holzberger (31 tháng 7 năm 2008). The letters of George Santayana: 1948–1952, Book 8. MIT Press, 2008. tr. 299. ISBN 978-0-262-19571-3. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]