Trung đại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sứ bộ An NamĐại Liêu phụng cống nhà Tống.

Trung đại là thuật ngữ do học giới hiện đại áp dụng cho giai đoạn trung gian trong tiến trình lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, tùy mỗi ý thức hệ lại có cách phân biệt mốc thời gian khác nhau.

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đại (中代) là lối diễn Nôm thuật ngữ media tempestas xuất hiện trong một văn bản Latin năm 1469, sau được biến thể nhiều ngôn ngữ khác[1][2][3]. Trong các tài liệu Việt Nam thập niên 1980 về trước, thuật ngữ này đôi khi được diễn nghĩa tối là trung cổ, nay đã bỏ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đại là giai đoạn lịch sử tương đối dài, nhưng so với tiền thân là cổ đại, giai đoạn này gắn với sự kiện toàn hóa các thiết chế chính trịpháp luật để tiến tới kiến tạo mô hình quốc gia, đặc biệt là sự thăng hoa văn nghệ để tiến tới kiến tạo bản sắc quốc gia hoặc thị tộc, ngoài ra báo hiệu sự phát triển thương nghiệpkĩ nghệ. Đây cũng là thời đại chứng kiến sức công phá tàn bạo của chiến tranh, dịch bệnhthiên tai, mà nhờ thế làm căn bản cho sự hoàn thiện hóa các lí thuyết về nhân học và cả nhân trị.

Đông phương

Lịch sử trung đại Đông phương thường được coi là giai đoạn vẻ vang nhất, thậm chí có những thời điểm người Đông phương tự hào là trung tâm văn minh thế giới. Tuy vậy, toàn bộ văn minh Đông phương trung đại căn bản tiến triển theo 3 trục:

Tây phương

Lịch sử trung đại Tây phương được phân thành 3 giai đoạn: Sơ kì, trung kì và hậu kì. Theo truyền thống, mốc khởi đầu là năm 476 SCN với sự kiện La Mã đế quốc phân liệt hóa[12], thời điểm kết thúc là năm 1350 khi Hắc Tử Bệnh làm tê liệt hình thái chính trị xã hội lỗi thời và thúc đẩy tiến trình khai phóng toàn diện. Tuy nhiên, quan niệm khác coi mốc kết thúc là 1492 với sự kiện Cristoffa Corombo khởi hành từ Tây Ban Nha dự định sang Ấn Độ và vô tình phát kiến Tân Thế Giới.

Có thời kì dài trong thế kỉ XIX, học giới Âu châu coi trung đại là thời hắc ám bởi ở phần lớn thời gian tồn tại đặc tính hỗn loạn về thiết chế chính trị xã hội và tù đọng về phương diện tinh thần, ngoài ra do tri thức về thời đại này còn lắm tồn nghi. Thành kiến này tới nay đã bị bác do sự phát triển của văn tự họckhảo cổ học.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Power, Central Middle Ages p. 3
  2. ^ Miglio "Curial Humanism", Interpretations of Renaissance Humanism p. 112
  3. ^ Albrow, Global Age p. 205
  4. ^ Shaikh, Fazlur Rehman (2001). Chronology of Prophetic Events. London: Ta-Ha Publishers Ltd. tr. 51–52.
  5. ^ Marom, Roy (Fall 2017). “Approaches to the Research of Early Islam: The Hijrah in Western Historiography”. Jama'a. tr. vii.
  6. ^ Catherine Ella Blanshard Asher; Cynthia Talbot (2006). India before Europe. Cambridge University Press. tr. 265. ISBN 978-0-521-80904-7.
  7. ^ A Popular Dictionary of Sikhism: Sikh Religion and Philosophy, p. 86, Routledge, W. Owen Cole, Piara Singh Sambhi, 2005
  8. ^ Khushwant Singh, A History of the Sikhs, Volume I: 1469–1839, Delhi, Oxford University Press, 1978, pp. 127–129
  9. ^ 徐俊 (2000年11月). 中國古代王朝和政權名號探源. 湖北武昌: 華中師範大學出版社. tr. 58–60. ISBN 7-5622-2277-0. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  10. ^ 羅茲·墨菲(黃磷譯),《亞洲史》(第四版),海南出版社,三環出版社,2004年10月,141- 154 ISBN 978-7-80700-092-1
  11. ^ “辛亥革命100週年簡介-香港國際論壇”. hongkong-mart.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2020.
  12. ^ Sự kết thúc trung đại Âu châu

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt
Tiếng Anh