Hòa ước Giáp Thân (1884)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hòa ước Giáp Thân 1884 hay còn có tên là Hòa ước Patenôtre (Pa-tơ-nốt), là hòa ước cuối cùng nhà Nguyễn ký với thực dân Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 tại kinh đô Huế gồm có 19 điều khoản. Đại diện các phía nhà Nguyễn là Phạm Thận Duật - Toàn quyền đại thần, Tôn Thất Phan - Phó Toàn quyền đại thần, Nguyễn Văn Tường - Phụ chính đại thần và phía Pháp là Jules Patenôtre - Sứ thần Cộng hoà Pháp

Nguyên nhân dẫn tới hiệp định[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi ký Hoà ước Quý Mùi 1883, trong nội bộ triều đình Huế lục đục, các vị vua Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi kế tiếp nhau lên ngôi trong thời gian ngắn. Lúc này, ở Bắc Kỳ quân Pháp đang đánh nhau với quân nhà Thanh và đã đuổi được phần lớn quân Thanh về Trung Quốc, tuy nhiên tại một số tỉnh quân Thanh vẫn còn có mặt và đe doạ sự có mặt của người Pháp ở Bắc Kỳ. Chính phủ Pháp đã sai Fournier sang Thiên Tân ký với Lý Hồng Chương bản sơ bộ về Hoà ước Thiên Tân 1884, trong nội dung bản hoà ước sơ bộ giữa Pháp và nhà Thanh năm 1884, đã có điều khoản nhà Thanh công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Dựa vào bản sơ bộ này, mà sau này là bản chính thức Hòa ước Thiên Tân 1885, Chính phủ Pháp đã sai Patenôtre - Đại diện Cộng hoà Pháp đến Huế sửa lại Hòa ước Quý Mùi 1883 trước đó giữa Pháp và nhà Nguyễn

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 1. An Nam công nhận và chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. Pháp sẽ đại diện cho An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại của mình. Quyền lợi của An Nam ở nước ngoài sẽ được đặt dưới sự bảo vệ của Pháp.

Điều 2. Một lực lượng quân sự Pháp sẽ chiếm Thuận An lâu dài. Tất cả các căn cứ và căn cứ quân sự dọc theo sông Huế sẽ được san bằng.

Điều 3. Các quan chức An Nam sẽ tiếp tục quản lý các tỉnh nằm giữa biên giới với Nam Kỳ và biên giới với tỉnh Ninh Bình, ngoại trừ hải quan và các công trình công cộng và, nói chung, bất kỳ dịch vụ nào đòi hỏi sự chỉ đạo duy nhất hoặc công tác của kỹ sư châu Âu hoặc các đại lý.

Điều 4. Trong thời hạn nêu trên, Chính phủ An Nam sẽ cho phép sử dụng các cảng Tourane, Quy Nhơn và mở cửa giao thương với tất cả các quốc gia. Các cảng khác cũng có thể được mở ra vào một ngày sau đó theo thoả thuận. Chính phủ Pháp sẽ duy trì những trạm hải quan được đặt theo lệnh của Khâm sứ tại Huế.

Điều 5. Một Khâm sứ chung, đại diện Chính phủ Pháp, sẽ giám sát các quan hệ ngoại giao của An Nam và đảm bảo hoạt động trơn tru của chế độ bảo hộ, trong khi không can thiệp vào chính quyền địa phương các tỉnh bao gồm trong giới hạn được thiết lập bởi Điều 3. Ông sẽ cư trú trong thành Huế với một đội hộ tống quân sự. Khâm sứ chung sẽ được hưởng quyền tư nhân và cá nhân với Nhà vua An Nam.

Điều 6. Người dân ở các thị trấn chính của Bắc Hà được cai trị bởi Chính phủ Cộng hoà và tuân lệnh của Tổng trú. Họ sẽ sống trong thành, và nếu đó là trường hợp, trong địa phận dành cho các quan lại. Nếu cần thiết, họ sẽ được bảo vệ bởi quân đội Pháp hoặc bản địa.

Điều 7. Người dân phải tránh can thiệp vào các chi tiết của chính quyền các tỉnh. Các quan chức bản địa ở tất cả các cấp sẽ tiếp tục điều chỉnh và quản lý họ, chịu sự kiểm soát của họ, nhưng sẽ bị bãi chức nếu có yêu cầu của chính quyền Pháp.

Điều 8. Các quan chức và người lao động Pháp chỉ có trách nhiệm giao tiếp với các cơ quan chức năng An Nam thông qua các cư dân bản địa.

Điều 9. Một đường dây điện tín được đặt từ Sài Gòn đến Hà Nội. Một phần thu nhập từ đường dây điện tín này phải nộp cho chính phủ An Nam, ngược lại An Nam sẽ cấp đất cho các trạm điện báo.

Điều 10. Ở An Nam và Bắc Việt, người nước ngoài được đặt dưới quyền tài phán của Pháp. Các nhà chức trách Pháp xác định bất kỳ loại tranh chấp nào có thể phát sinh giữa An Nam và người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau.

Điều 11. Trong thời hạn theo đúng quy định của An Nam, các quan sẽ thu thuế truyền thống mà không có sự giám sát của các quan chức Pháp sung vào ngân khố của triều đình Huế. Ở Bắc Kỳ, các cư dân sẽ giám sát việc thu thuế này. Họ sẽ được hỗ trợ bởi các quan, và sẽ giám sát việc làm và phương pháp của các quan. Một ủy ban gồm các ủy viên Pháp và An Nam sẽ xác định số tiền được giao cho các cơ quan chính phủ khác nhau và chi cho các dịch vụ công cộng. Phần còn lại sẽ được gửi vào kho bạc của triều đình Huế.

Điều 12. Các cơ chế hải quan sẽ được tổ chức lại trong suốt vương quốc và giao phó hoàn toàn cho các quản trị viên Pháp. Hải quan chỉ được thiết lập trên bờ và trên các vùng biên giới, và được đặt bất cứ nơi nào cần thiết. Không có khiếu nại đối với các quyết định trước đây được thực hiện bởi các cơ quan chức quân sự về các vấn đề hải quan được giải trí. Các luật và quy định của Nam Kỳ bao gồm các khoản đóng góp gián tiếp, cơ chế hải quan, quy mô của thuế quan và các biện pháp phòng ngừa vệ sinh cũng sẽ được áp dụng trên toàn lãnh thổ của An Nam và Bắc Bộ.

Điều 13. Công dân và người Pháp dưới sự bảo hộ của Pháp có thể tự do đi lại, tham gia thương mại, và sở hữu và giao dịch động sản và bất động sản bất cứ nơi nào trong phạm vi biên giới của Bắc Bộ và các cửa khẩu của An Nam. Nhà vua An Nam khẳng định rõ ràng những bảo đảm theo quy định của điều ước quốc tế ký kết ngày 15 tháng 3 năm 1874 đối với các nhà truyền giáo và Thiên chúa giáo.

Điều 14. Những người muốn đi du lịch trong lãnh địa của An Nam phải có giấy phép đi đường được cấp bởi Tổng trú tại Huế hoặc thống đốc Nam Kỳ. Các cơ quan này có trách nhiệm thị thực hộ chiếu của họ, dấu thị thực phải được trình bày như một visa của chính phủ An Nam.

Điều 15. Pháp cam kết đảm bảo từ nay trở đi sự toàn vẹn lãnh thổ của Nhà vua An Nam, và để bảo vệ chủ quyền của nhà vua đối với tất cả các sự xâm lược từ bên ngoài và nổi loạn nội bộ. Để thực hiện điều này, các nhà chức trách Pháp có quân trạm tại bất cứ điểm trong lãnh thổ của An Nam và Bắc Bộ mà họ đánh giá là cần thiết cho hoạt động hiệu quả của chế độ bảo hộ.

Điều 16. Như trong quá khứ, Nhà vua An Nam sẽ tiếp tục chỉ đạo việc quản trị nội bộ trong lãnh thổ của mình, trừ trường hợp bị hạn chế bởi các quy định của Công ước này hiện nay.

Điều 17. Dư nợ An Nam của Pháp sẽ được đền đáp một cách sau đó được xác định. Nhà vua An Nam phải tránh mắc bất kỳ khoản vay nước ngoài, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chính phủ Pháp.

Điều 18. Đàm phán sẽ được tổ chức để xác định các giới hạn của hải quan và các nhượng bộ cho Pháp trong mỗi cảng, địa điểm cho việc xây dựng ngọn hải đăng trên bờ biển Trung Kỳ và Bắc Việt, sắp xếp cho việc khai thác mỏ, tiền tệ hệ thống, và phần lợi nhuận phát sinh từ hải quan, các quy định, thuế trên dây cáp điện báo và các khoản thu khác không quy định tại Điều 11 của Hiệp ước này. Công ước này sẽ được đệ trình cho sự chấp thuận của Chính phủ Cộng hoà Pháp và Nhà vua An Nam, và phê chuẩn sẽ được trao đổi càng sớm càng tốt.

Điều 19. Các điều ước quốc tế hiện nay sẽ thay thế các điều ước được ký kết ngày 15 tháng 3, ngày 31 tháng 8 và 23 tháng 11 năm 1874.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bang giao Đại Việt - triều Nguyễn, NXB Văn hoá thông tin 2005

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]