Nguyễn Thân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nguyễn Thân (chữ Hán: 阮紳, 1854 - 1914)[1], biểu tự Thạch Trì (石池), là võ quan nhà Nguyễn và là cộng sự đắc lực của thực dân Pháp vào những năm cuối thế kỷ 19 tại Việt Nam.

Nguyễn Thân đã mang quân đánh dẹp thành công các thế lực người Việt nổi dậy chống Pháp và đem lại sự bình yên một thời gian cho An Nam, lúc ấy dưới sự cai trị của Pháp. Nhờ những chiến công, ông đã được trao nhiều huy chương danh giá của nước Pháp và làm Phụ chính đại thần, cùng với Nguyễn Trọng Hợp là hai người nắm đại quyền trong triều đình An Nam lúc đó.

Nguyễn Thân sau đó về hưu và chết bởi bệnh điên.

Nguồn gốc và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quê gốc Nguyễn Thân là làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Cha là Nguyễn Tấn, một võ quan triều Tự Đức, nhờ dùng mưu kế, thu phục được các sắc dân ở Đá Vách (Quảng Ngãi). Tương truyền Nguyễn Tấn ăn đường Phèn, người Đá Vách tưởng ông ăn đá cuội, nên tôn ông làm "thần tướng". Theo lời của Nguyễn Thân:cha tôi làm tướng trông coi vùng núi Quảng Ngãi, Bình Định và Quảng Nam.[2]

Cha của Nguyễn Thân chết khi còn trẻ, Nguyễn Thân kế nhiệm chức của cha mình, các bộ tộc này lại nổi dậy, triều đình sai Nguyễn Thân đi đánh dẹp, biết ông là con của "thần tướng", họ lui quân. Lập được công, Nguyễn Thân trở nên nổi tiếng [3].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đêm 22 rạng 23 tháng 4 âm lịch (tức 5-6 tháng 7 năm 1885), Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường, đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá (Huế). Đến sáng thì đối phương phản công, quân Nguyễn thua, phải đưa vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị. Ngay sau đó, nghĩa quân chiếm thành Bình Định, làm căn cứ kháng Pháp. Nguyễn Thân cũng có ý muốn chiếm tỉnh thành này, để làm nơi cát cứ, nhưng vì chậm chân hơn.

Đại thần Tôn Thất Thuyết dẫn theo vua Hàm Nghi để kêu gọi toàn dân đứng lên chống Pháp, toàn xứ Trung Kỳ rơi vào rối loạn và các cuộc nổi dậy nổ ra khắp nơi.[2] Khi vua Hàm Nghi ban bố dụ Cần Vương, Nguyễn Thân tham gia Nghĩa hội Quảng Ngãi[4]. Nhưng sau khi suy tính thiệt hơn, ông phản lại Nghĩa hội để phục vụ cho vua Đồng Khánh đang hợp tác với thực dân Pháp.

Vua Đồng Khánh sai Nguyễn Thân đem quân đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Quảng Ngãi do Lê Trung Đình hay Cử Đình-Nguyễn Tự Tân hay Tú ân chỉ huy với 2.000 lính triều đình. Nguyễn Thân chiếm lại được thành Quảng Ngãi, bắt giữ 14 người thủ lĩnh và chặt đầu tại trận.[2]

(tháng 7 năm 1885), Nguyễn Thân tiến về Bình Định nhằm dập tắt cuộc khởi nghĩa ở Bình Định (1885-1187) do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo. Nguyễn Thân đã lập tại trật tự và tổ chức chính quyền tại tất cả các huyện. Kể từ đó, Nguyễn Thân trở thành một tướng lĩnh quan trọng của triều vua Đồng Khánh đồng thời là cộng sự đắc lực, rất được Pháp tin cậy.

Tháng 8 năm 1886, đánh dẹp cuộc kháng Pháp của Bùi Điền. Năm 1887, Nguyễn Thân Vào Quảng Nam đánh dẹp phong trào kháng Pháp của Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến. Thành công, được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh ngũ hạng năm. Năm 1888: Được triều đình Huế cho lĩnh chức Binh bộ thượng thư, kiêm Tổng đốc Bình Định. Tại đây, Nguyễn Thân cho lính đàn áp các cuộc nổi dậy, được Pháp thưởng Bắc đẩu bội tinh tứ hạng.

Năm 1895: Lĩnh chức Khâm mạng tiết chế quân vụ, đem ba ngàn quân ra Hà Tĩnh lùng diệt cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Do thế cùng lực kiệt, Phan Đình Phùng phải uống thuốc độc tự tử, nhiều thủ lĩnh bị bắt, hàng nghìn người đầu hàng. Nguyễn Thân đã cho quật mồ Phan Đình Phùng, đổ dầu đốt cho xương thịt ông cháy thành tro, rồi trộn vào thuốc súng bắn xuống sông La[5]. Nhờ công lao này, Nguyễn Thân được cử làm phụ chính đại thần, và được phong tước Diên Lộc bá (延祿伯), sau thăng làm Diên Lộc Quận công (延祿郡公), huân chương Bắc đẩu bội binh hạng ba [6].

Phụ chính đại thần là những người chấp chính ở triều đình An Nam khi vua còn nhỏ, thời vua Thành Thái, có 3 vị phụ chính đại thần. Đệ nhất phụ chính là Tuy Lý Vương Miên Trinh, người không có thực quyền; Đệ nhị phụ chính là Nguyễn Trọng Hợp; Đệ tam phụ chính là Nguyễn Thân. Nguyễn Trọng Hợp và Nguyễn Than là hai người nắm đại quyền trong triều đình.[7]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Hưu trí, Nguyễn Thân đến ở làng Thu Xà [8](nay thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi), sau bị bệnh điên mà chết.

Tự khắc bia đá ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sách Phan Đình Phùng của Đào Trinh Nhất, có một đoạn sử liệu như sau:

Phan Đình Phùng chết, nghĩa binh tự tan. Nguyễn Thân tự cho cái kết quả ấy là công trạng của mình, mặc dù từ khi kéo đại binh ra, không hề giáp trận với nghĩa binh của ông Phan lần nào. Ông ta cho làm một lá cờ bằng lụa đỏ thật lớn: "Tặc phùng bố tử", nghĩa là "tên giặc Phùng sợ quá chết rồi", và sai lính vác lá cờ ấy, cưỡi ngựa lưu tinh chạy đêm ngày về kinh báo tiệp. Hơn thế nữa, Nguyễn Thân còn sai Tuần phủ Đinh Nho Quang soạn gắp bài văn bia, cho khắc vào đá, dựng trên Tùng Sơn:
Vệ giang chi anh,
Thạch trụ chi kinh.
Thế xuất tuấn kiệt,
Vị xã tắc sanh.
Tây bình hữu tử,
Đẩu nam đại danh.
Hồng Lam thiên cổ,
Bi kê tranh tranh."[9]
Ba năm sau, bia đá ấy bị sét đánh bể ra làm mấy mảnh, rồi thì cỏ mọc rêu phong, ruồi bâu, chuột ở; ít lâu sau người Pháp lại phá trái núi ấy đi, thành ra tấm bia mất tích, không còn ai nhìn biết hồi trước nó ở chỗ nào nữa...[10]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Nghĩa hội Quảng Nam do Nguyễn Duy HiệuPhan Bá Phiến tổ chức. Sau đó Nguyễn Thân dẫn quân triều đình nhà Nguyễn cùng quân Pháp đánh tan tác Nghĩa hội, làm cho Nguyễn Duy Hiệu bị xử tử và Phan Bá Phiến phải tự vẫn để giữ tròn khí tiết. Kể lại chuyện này, nhà chí sĩ Phan Bội Châu viết:

Nguyễn Thân, người Quảng Ngãi, trước cũng dự tên Nghĩa hội, sau phản Nghĩa hội theo Pháp...Đây là tay đầu sỏ nhất trong bọn nộ lệ Pháp...(dù) Hiệu, Phiến ở đâu, tất nó hết sức dò la cho ra...

Ở trang nói về công cuộc kháng Pháp của Lê Trung ĐìnhTrần Du, Phan Bội Châu cũng đã phê phán rằng:

Hai ông đều là người Quảng Ngãi, đồng hương với Nguyễn Thân. Thế mà đồng chủng lại không yêu đồng chủng cũng đã là nhẫn tâm, nay lại vác dao cầm giáo vì bọn dị chủng mà giết cho hết đồng chủng của mình mới thôi, thì nhẫn tâm biết chừng nào! [11]

Trước 1975, trong Việt Nam cách mạng cận sử của Phạm Văn Sơn cũng có đoạn:

Nguyễn Thân là người hung ác, hiểm độc lắm và hay giết người. Trong lúc dùng binh, ông giết người ta không biết bao nhiêu mà kể. sau về hưu trí ở làng Thu Xà bị bệnh điên cuồng mà chết. Người ta nói ông bị những oan qủy báo oán. Và tòa nhà lộng lẫy của ông lập ngay trên một trái núi con ở Thu Xà, người ta cũng đồn cái nhà ấy nhiều ma, cho nên khi ông chết đi rồi thì nhà bị bỏ hoang...[12]

Theo Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương: Ngay từ phút ban đầu, ông ấy đã có được sự tín nhiệm của tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng, vì An Nam giờ đã ở trong tình hình khác hẳn với thời kỳ trước đó và không có cuộc nổi loạn nào nữa. Nguyễn Thân đã cống hiến cho cả đất nước mình và nước Pháp.[13]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004
  • Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.
  • Phạm Văn Sơn, Việt Nam cách mạng cận sử, Sài Gòn, 1963.
  • Xứ Đông Dương, Tác giả Paul Doumer, Nhà xuất bản thế giới, 2016.
  • Việt Nam sử lược, Tác giả Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Bộ giáo dục trung tâm học liệu xuất bản.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 635) thì ông sinh năm 1840, không rõ năm mất.
  2. ^ a ă â Xứ Đông Dương, Nhà xuất bản Thế giới, 2016, trang 299
  3. ^ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 636) và Việt Nam cách mạng cận sử (tr.181). Xem thêm trang Nổi dậy ở Đá Vách thời Nguyễn.
  4. ^ Theo Việt Nam vong quốc sử, tr.34.
  5. ^ Chép theo Lịch sử 11 (nâng cao. Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr.257). Tuy nhiên, Trần Trọng Kim lại chép khác: Có người nói rằng việc ấy tuy Nguyễn Thân trước định thế, nhưng sau lại cho đem chôn (Việt Nam sử lược, tr. 568).
  6. ^ Theo Nguyễn Đức Cung, Diên Lộc Quận công Nguyễn Thân. Nhật Lệ xuất bản, Philadelphia, PA. 2002, tr. 393, 490.
  7. ^ Xứ Đông Dương, Nhà xuất bản Thế giới, 2016, trang 302
  8. ^ Chép theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 636). Song Nguyễn Đức Cung (sách đã dẫn) cho rằng, năm 1903, khi về hưu trí, Nguyễn Thân chọn Phú Thọ (nay thuộc xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa) sống những ngày còn lạị.
  9. ^ Đại ý nói khí thiêng sông núi Vệ Giang, Thạch Trụ, (quê hương của Nguyễn Thân) chung đúc ra người anh tài, cha truyền con nối, vì giang sơn xã tắc mà đẻ ra để giúp giang sơn xã tắc. Cha trước đã anh hùng, giờ tới con cũng lập nên công nghiệp lớn (chỉ việc đánh dẹp Phan Đình Phùng), bia đá chép công, rạng tỏ đất Hồng Lam đến muôn đời.
  10. ^ Theo Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng, Hải Phòng xb, 1936, tr. 288, 289.
  11. ^ Việt Nam vong quốc sử, tr.34-35.
  12. ^ Việt Nam cách mạng cận sử, tr.182.
  13. ^ Xứ Đông Dương, Nhà xuất bản Thế giới, 2016, trang 300

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]