Phạm Bành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phạm Bành (1827-1887) là quan nhà Nguyễn, đã tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Bành quê ở làng Trương Xá (nay thuộc xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá), đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864). Ông làm quan đến chức Án sát tỉnh Nghệ An, là người nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông bỏ quan về quê cùng với Hoàng Bật Đạt mộ quân khởi nghĩa. Giữa năm 1886 ông được cử cùng với Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng và một số tướng lĩnh khác xây dựng căn cứ Ba Đình nhằm bảo vệ cửa ngõ miền Trung Việt Nam và làm bàn đạp đánh địch ở đồng bằng. Căn cứ Ba Đình thuộc địa phận huyện Nga Sơn (Thanh Hoá). Sở dĩ gọi là Ba Đình vì nơi đây gồm 3 làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh ở liền nhau, mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở làng này sẽ nhìn thấy đình ở hai làng bên và có một ngôi nghè chung, Lập căn cứ Ba Đình nghĩa quân có thể kiểm soát và khống chế đường số 1(là con đường đi yết hầu của địch từ Bắc vào Nam), hơn thế nữa địa thế nơi đây rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ phòng ngự kiên cố và từ đó nghĩa quân có thể toả ra ngăn chặn những hoạt động của địch ở khu vực giữa Ninh BìnhThanh Hóa.

Sau những thất bại nặng nề ở Ba Đình, thực dân Pháp chủ trương tập trung đủ mọi binh chủng, có pháo binh yểm trợ đã tiến hành bao vây và mở nhiều đợt tấn công mới hạ nổi được Ba Đình.

Mặc dù tuổi già sức yếu (lúc này ông đã 60 tuổi) nhưng Phạm Bành luôn có mặt ở trận địa, nơi nguy hiểm nhất để động viên và khích lệ các nghĩa binh chiến đấu.

Sau khi Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở Mã Cao (huyện Yên Định) ngay đêm 20 tháng 2 năm 1887, rồi lánh về quê. Nhưng sau để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị quân Pháp bắt làm con tin, ông đã ra đầu thú và uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả ngày 18 tháng Ba năm Đinh Hợi (tức ngày 11 tháng 4 năm 1887) để tỏ rõ khí tiết của mình.

Về văn thơ, ông có để lại một bài thơ nhan đề Ký hữu.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Ký hữu
Đồng châu đồng quận hựu đồng danh
Cố chước chung bôi ký trực tình
Tâm tại Đông A ninh cố tử
Chí tồn Nam Việt khẳng thâu sinh
:
Gửi bạn
Cùng tên cùng quận lại cùng châu
Mượn chén ghi tình vĩnh biệt nhau
Lòng ở Đông A thà một chết
Chí vì Nam Việt sống thừa sao
(Khương Hữu Dụng dịch)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đinh Xuân Lâm - Trương Hữu Quýnh (2006), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Giáo Dục
  • Trần Văn Thịnh (2005), Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử dân tộc, NXB Khoa học xã hội
  • Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858-1900), NXB Văn học, 1976.