Xuân Trường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xuân Trường
Địa lý
Huyện lỵ Xuân Trường
Vị trí: Đông nam Nam Định
Diện tích: km²
Số xã, thị trấn: 19 xã, 1 thị trấn
Dân số
Số dân:
Mật độ: người/km²
Thành phần dân tộc: Người Việt
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Bùi Văn Hảo
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Đặng Ngọc Cường
Bí thư Huyện ủy: Bùi Văn Hảo
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: 03503 888 888
Số fax trụ sở:
Website: http://xuantruong.namdinh.gov.vn/


Xuân Trường là một huyện phía Nam của tỉnh Nam Định, Việt Nam.

Mục lục

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ranh giới phía Bắc với tỉnh Thái Bình là sông Hồng. Ranh giới phía Tây với huyện Trực Ninh là sông Ninh Cơ, ranh giới phía Đông Nam với huyện Giao Thủy là sông Sò.

Lịch sử địa danh[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Xuân Trường vốn là phần đất phía bắc huyện Giao Thuỷ thuộc phủ Thiên Trường trước đây. Địa danh phủ Thiên Trường có từ thời Trần, nhưng vùng đất huyên Xuân Trường ngày nay lại hình thành, chính thức có tên làng xã trên bản đồ hành chính mới từ thế kỷ XV. Theo tài liệu lịch sử, gia phả, thần phả, văn bia... vùng đất Xuân Trường ngày nay, vào thời Trần, hầu hết chỉ là đất sa bồi, bãi lau, sú, vẹt, đầm lầy ven biển, dân cư thưa thớt. Việc khai hoang mở đất ở đây chủ yếu do dân cư các thái ấp của các vương quan nhà Trần và cư dân tự do tiến hành. Đến thế kỷ XIV - XV, nhà Lê chú trọng chính sách khuyến nông, tổ chức đắp đê trị thuỷ, khuyến khích khai hoang lập ấp đã tạo điều kiện cho việc mở đất thuận lợi và phát triển mạnh mẽ. Vùng đất ven sông, biển ở đây trở thành nơi hội tụ của hàng ngàn cư dân các vùng khác đến khai cơ lập nghiệp. Một trong những người đến khai phá sớm vùng đất Xuân Trường là Ngô Miễn người xứ Kinh Bắc đã lập ra làng Nhật Thi (nay là Xuân Hy – Xuân Thủy, Xuân Bảng – Xuân Hùng - Thị trấn Xuân Trường, Xuân Dương – Xuân Hòa).

Trải nhiều năm lao động vất vả, gian lao, kiên cường chống thiên tai, cư dân khai khẩn đất mới ngày càng đông đúc, nhiều làng, ấp mới ra đời như Xuân Hy Thượng, Xuân Hy Hạ, Xuân Hy Hạ Tân, Hạc Châu, Lạc Nghiệp, Kiên Lao, Trà Lũ, Bình Cư (An Cư), Hành Cung, Cát Xuyên...

3 - Công cuộc khai hoang lập ấp được tiến hành liên tục, kiên trì, đến thế kỷ XIX đã hình thành vùng đất Xuân Trường ngày nay gồm 5 tổng: Cát Xuyên, Hành Cung, Kiên Lao, Trà Lũ, Thuỷ Nhai. [sửa | sửa mã nguồn]
+ Tổng Cát Xuyên có 11 xã, phường: Cát Xuyên, Liêu Phú, Chuỳ Khê, Hạ Miêu, Đông An, An Phú, Lãng Lăng, Liêu Đông, Liêu Thượng, An Đạo, phường thuỷ cơ An Phú.[sửa | sửa mã nguồn]
Đầu thế kỷ XX số xã của tổng Cát Xuyên là 14 xã với các thay đổi: [sửa | sửa mã nguồn]
- Xã An Phú chia đổi thành hai xã An Phú Giáo và An Phú Lương.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Lẵng Lăng chia đổi thành hai xã Lãng Lăng Giáo và Lãng Lăng Lương.[sửa | sửa mã nguồn]
- Bỏ các xã Liêu Phú và phường thuỷ cơ An Phú. Các xã mới ra đời là Lạc Thành, Phong Miêu, Phú Ân, Thuận Thành, Văn Phú.[sửa | sửa mã nguồn]
Tổng Cát Xuyên xưa nay là phần đất các xã Xuân Thành, Xuân Tân, Xuân Phú.[sửa | sửa mã nguồn]
+ Tổng Hành Cung có 11 xã, ấp là: Hành Cung, Quy Phú, Dũng Nhuệ, Nhương Đông, Kênh Đào, Phan Xá, Chi Phong, Ngọc Cục, Hành Hà, La Xuyên, ấp Tứ Chiếng chợ Kênh Đào.[sửa | sửa mã nguồn]
Thời Minh Mệnh đổi tổng Hành Cung thành tổng Hành Thiện.[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Đồng Khánh 3(1891) cắt một số làng, xóm của tổng Hành Thiện là: La Xuyên, Quy Phú, Thanh Hà, Nghĩa, Kênh Thao, Chi Phong, Phan Xá, Nhương Đông (Tương Đông) phụ sang cho huyện Vũ Tiên (Thái Bình).[sửa | sửa mã nguồn]
Đầu thế kỷ XX cắt một số ấp của các xã tổng Hành Thiện thành lập tổng Lạc Thiện. Tổng Hành Thiện thời này còn 8 xã, ấp: Dũng Trí, ấp An Hành, Hạc Châu, Hạc Lương, Hành Thiện, Ngọc Cục, Sa Cao, Thuận An. Hầu hết các xã đã đổi tên như Hành Cung thành Hành Thiện, Dũng Nhuệ thành Dũng Trí...[sửa | sửa mã nguồn]
Tổng Hành Thiện bao gồm phần đất các xã Xuân Châu, Xuân Hồng ngày nay.[sửa | sửa mã nguồn]
+ Tổng Thuỷ Nhai có 13 xã, phường: Thuỷ Nhai, Trung Lễ, Hạ Linh, Trung Linh, An Cư, Phú Đường, Phú Nhai, Lục Thuỷ, Thượng Miêu, Nhật Hy, Bùi Chu, Hoành Quán, phường thuỷ cơ An Cư.[sửa | sửa mã nguồn]
Đầu thế kỷ XX chia tách xã Phú Đường thành hai xã mới là Liên Thuỷ và Phú An; Tách xã Thuỷ Nhai thêm thôn Thuỷ Nhai Trung; Đổi tên xã Thượng Miêu thành xã Thượng Phúc; Chia xã Nhật Hy thành hai xã Nhật Hy Thượng và Xuân Bảng.[sửa | sửa mã nguồn]
+ Tổng Trà Lũ có 8 xã, phường là: Trà Lũ, Lạc Nghiệp, Vạn Lộc, Trà Khê, Quần Cống, Hoành Vực, Chuỳ Trà, phường thuỷ cơ Trà Lũ.[sửa | sửa mã nguồn]
Đầu thế kỷ XX đổi tên xã Hoành Vực thành xã Thọ Vực; xã Chuỳ Trà thành xã Thanh Trà (sau lại đổi Thanh Trà thành Thanh Khê); xã Quần Cống thành xã Thiên Thiện; Chia xã Trà Lũ làm Trà Lũ Đông, Trà Lũ Đoài, Trà Lũ Bắc, Trà Lũ Trung và lấy trại Nam Điền thuộc xã Trà Lũ Trung lập thành xã Nam Điền. Bỏ phường thuỷ cơ Trà Lũ.[sửa | sửa mã nguồn]
Tổng Trà Lũ bao gồm phần đất các xã Xuân Trung, Xuân Bắc, Xuân Phương, Thọ Nghiệp ngày nay.[sửa | sửa mã nguồn]
+ Tổng Kiên Lao có 8 xã là: Kiên Lao, Hội Khê, Hà Lạn, Quần Mông, Trà Hải, Cẩm Hà, Ngọc Tỉnh, Bắc Câu.[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1888 thành lập huyện Hải Hậu thì năm Đồng Khánh 3(1891) cắt một nửa tổng Kiên Lao phụ vào huyện Hải Hậu. (Cụ thể là thôn Lạc Nam (do xã Quần Mông chia ra), xã Kiên Trung (tách từ xã Kiên Lao), xã Trà Trung và Trà Hạ (tách từ xã Trà Hải), xã Hội Khê (tách từ xã Hội Khê), xã Hà Quang (tách từ xã Cẩm Hà) và xã Hà Lạn). [sửa | sửa mã nguồn]
Đầu thê kỷ XX tổng Kiên Lao có 10 xã: Kiên Lao, Bắc Câu, Hội Khê Bắc, Hội Khê Ngoại, Lạc Quần, Nghĩa Xá, Ngọc Tỉnh, Thanh Khê, Trà Thượng, Xuân Dục.[sửa | sửa mã nguồn]
Tổng Kiên Lao nay thuộc phần đất các xã Xuân Ninh, Xuân Kiên, Xuân Tiến, Xuân Hoà, thị trấn Xuân Trường. [sửa | sửa mã nguồn]
4 - Trong cách mạng, nhiều đơn vị hành chính đã bị thay đổi. Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 9 – 10 – 1945 quyết nghị các thành phố, tỉnh, phủ, huyện được gọi theo tên cũ từ thời phong kiến. Huyện Xuân Trường gọi lại là phủ Xuân Trường.[sửa | sửa mã nguồn]
- Ngày 25 – 3 – 1948 Sắc lệnh số 148-SL của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bỏ phủ, châu, quận. Cấp trên xã dưới tỉnh gọi là huyện. Phủ Xuân Trường lại gọi là huyện Xuân Trường. Theo báo cáo số 17535 HC/LK3 của UBKCHC LK3 tỉnh Nam Định có 9 huyện (158 xã) là Giao Thuỷ, Xuân Trường, Mỹ Lộc, Hải Hậu, Nam Trực, ý Yên, Nghĩa Hưng, Vụ Bản, Trực Ninh.[sửa | sửa mã nguồn]
Từ năm 1945, huyện Xuân Trường có sự điều chỉnh sát nhập nhiều xã cũ thành xã mới, huyện Xuân Trường có 19 xã:[sửa | sửa mã nguồn]
- Nam Châu (Hạc Châu, Hạc Lương, Sa Cao, Thuận An).[sửa | sửa mã nguồn]
- Tiên Châu (Hành Thiện, Dũng Trí, Ngọc Cục).[sửa | sửa mã nguồn]
- Thượng Phúc (Thượng Miêu).[sửa | sửa mã nguồn]
- Cát An (Cát Xuyên, Chuỳ Khê, An Phú, Lãng Lăng, Phú Ân).[sửa | sửa mã nguồn]
- Tân An (Phong Miêu, Hạ Miêu, Liêu Đông, Liêu Thượng).[sửa | sửa mã nguồn]
- Tân Trào (Văn Phú, Đông An).[sửa | sửa mã nguồn]
- Vạn Thọ Trà (Vạn Lộc, Trà Khê, Thanh Trà, Thọ Vực)[sửa | sửa mã nguồn]
- Xuân Thuỷ Quán (Thuỷ Nhai, Xuân Hy, Hoành Quán).[sửa | sửa mã nguồn]
- Trà Bắc (Trà Lũ Bắc).[sửa | sửa mã nguồn]
- Trà Phú (Trà Lũ Đông, Trà Lũ Đoài. Trà Lũ Trung, Phú Nhai).[sửa | sửa mã nguồn]
- Xuân An (An Cư).[sửa | sửa mã nguồn]
- Nam Điền (Nam Điền).[sửa | sửa mã nguồn]
- Lạc Thiện Thọ (Lạc Nghiệp, Tự Lạc, Thiên Thiện, Nhân Thọ).[sửa | sửa mã nguồn]
- Tân Dân (Ngọc Tỉnh, Bắc Câu, Trà Thượng).[sửa | sửa mã nguồn]
- Kiên Lao (Kiên Lao).[sửa | sửa mã nguồn]
- Xuân Lạc Nghĩa (Lạc Quần, Nghĩa Xá, Xuân Dục).[sửa | sửa mã nguồn]
- Cộng Hoà (Hội Khê).[sửa | sửa mã nguồn]
- Lục Liên (Lục Thuỷ, Liên Thượng).[sửa | sửa mã nguồn]
- Ngọc Hồ (Trung Lễ, Trung Linh, Hạ Linh, Bùi Chu).[sửa | sửa mã nguồn]
Nghị định số 224-TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 15 – 10 – 1952 đổi tên 19 xã của huyện Xuân Trường với yêu cầu tên các xã đều có tiếng đầu là “Xuân” như sau:[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Nam Châu đổi là xã Xuân Châu.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Tiên Châu đổi là xã Xuân Khu.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Thượng Phúc đổi là xã Xuân Thượng.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Cát An đổi là xã Xuân Đài.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Tân An đổi là xã Xuân Thành.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Tân Trào đổi là xã Xuân Tân.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Vạn Thọ Trà đổi là xã Xuân Phong.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Xuân Thuỷ Quán đổi là Xuân Thuỷ.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Trà Bắc đổi là Xuân Bắc.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Trà Phú đổi là xã Xuân Phương.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Xuân An vẫn gọi là xã Xuân An.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Nam Điền đổi gọi là xã Xuân Nam.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Lạc Thiện Thọ đổi gọi là xã Xuân Thọ.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Tân Dân đổi gọi là xã Xuân Hải.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Kiên Lao đổi gọi là xã Xuân Kiên.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Xuân Lạc Nghĩa đổi gọi là xã Xuân Lạc.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Cộng Hoà đổi gọi là xã Xuân Hoà.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Ngọc Hồ đổi gọi là xã Xuân Ngọc.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Lục Liên đổi gọi là xã Xuân Liên.[sửa | sửa mã nguồn]
Giai đoạn từ 1954 đến 1960, huyện Xuân Trường có sự điều chỉnh các xã như sau:[sửa | sửa mã nguồn]
Sát nhập xã Xuân Liên vào xã Xuân Ngọc.[sửa | sửa mã nguồn]
Quyết nghị số 677 QN/UB của UBHC LK3 ngày 3 – 12 – 1957 chia xã Xuân Ngọc của huyện Xuân Trường thành 2 xã mới là Xuân Ngọc và Xuân Thiện.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Ngọc (gồm các thôn Bùi Chu, Hạ Linh, Liên Thượng, Liên Hạ, Phú An, thị trấn Bùi Chu).[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Thiện (gồm các thôn Đô Trang, An Phú, An Thịnh, Đồng Nê, trại Trí Thiện, trại Thất Sự).[sửa | sửa mã nguồn]
Thời kỳ sau cải cách ruộng đất, có sự điều chỉnh tách, nhập một số thôn, xã huyện Xuân Trường như sau:[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Khu chia thành hai xã là Xuân Khu và Xuân Tiên.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Phương chia thành hai xã là Xuân Phương và Xuân Trung.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Lạc chia thành hai xã là Xuân Lạc và Xuân Nghĩa.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Thọ chia thành hai xã là Xuân Thọ và Xuân Nghiệp.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Hoà chia thành hai xã là Xuân Hoà và Xuân Dương.[sửa | sửa mã nguồn]
- Xã Xuân Kiên chia thành hai xã Xuân Kiên và Xuân Tiến.[sửa | sửa mã nguồn]
Thời kỳ này huyện Xuân Trường có 26 xã: Xuân Khu, Xuân Tiên, Xuân Thiện, Xuân Châu, Xuân Thượng, Xuân Đài, Xuân Phú, Xuân Thành, Xuân Tân, Xuân Phong, Xuân Thuỷ, Xuân Bắc, Xuân Trung, Xuân Phương, Xuân Thọ, Xuân Nghiệp, Xuân An, Xuân Nam, Xuân Hải, Xuân Kiên, Xuân Hoà, Xuân Dương, Xuân Lạc, Xuân Nghĩa, Xuân Ngọc, Xuân Tiến.[sửa | sửa mã nguồn]
Thời kỳ từ 1961 đến nay, huyện Xuân Trường có những sự điều chỉnh mới:[sửa | sửa mã nguồn]
Quyết định số 174-CP ngày 11 – 12 – 1967 của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà sát nhập huyện Xuân Trường và huyện Giao Thuỷ thành huyện Xuân Thuỷ. Các đơn vị hành chính cấp xã của huyện Xuân Trường và huyện Giao Thuỷ trước đó vẫn giữ nguyên.[sửa | sửa mã nguồn]
Quyết định số 89-NV ngày 18 – 3 – 1968 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay đổi đơn vị hành chính cấp xã của huyện Xuân Thuỷ:[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập thôn Quần Lung của xã Xuân Dương vào xã Xuân Nam.[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập hai xã Xuân Dương và Xuân Hoà thành xã Xuân Hoà.[sửa | sửa mã nguồn]
Hai xã này đều thuộc huyện Xuân Trường trước đó.[sửa | sửa mã nguồn]
Quyết định số 164-NV ngày 28 – 3 – 1969 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay đổi địa giới địa danh một số xã của huyện Xuân Thuỷ, trong đó có một số đơn vị thuộc đất huyện Xuân Trường trước đó là:[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập xã Xuân Nghĩa với xã Xuân Lạc thành xã Xuân Ninh.[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập xã Xuân Thọ với xã Xuân Nghiệp thành xã Thọ Nghiệp.[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập xã Xuân Khu với xã Xuân Tiên và xã Xuân Thiện thành xã Xuân Hồng.[sửa | sửa mã nguồn]
Quyết định số 233-TTg ngày 21 – 8 – 1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng:[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập thôn Xuân Bảng của xã Xuân An vào xã Xuân Hải và đổi tên xã Xuân Hải thành xã Xuân Hùng.[sửa | sửa mã nguồn]
- Sát nhập thôn An Cư của xã Xuân An vào xã Xuân Nam và đổi tên xã Xuân Nam thành xã Xuân Vinh.[sửa | sửa mã nguồn]
Xã Xuân An đã bị giải thể.[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1975 hợp nhất tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh. Huyện Xuân Thuỷ thuộc tỉnh Hà Nam Ninh.[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1991 chia tách tỉnh Hà Nam Ninh thành tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình. Huyện Xuân Thuỷ thuộc tỉnh Nam Hà.[sửa | sửa mã nguồn]
Năm 1996 chia tách tỉnh Nam Hà thành tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam. Huyện Xuân Thuỷ thuộc tỉnh Nam Định.[sửa | sửa mã nguồn]
Nghị định số 19-CP ngày 16 – 2 – 1997 của Chính phủ chia tách huyện Xuân Thuỷ thành huyện Xuân Trường và huyện Giao Thuỷ. Huyện Xuân Trường có 20 xã. Địa danh địa giới các xã của huyện Xuân Trường từ đó đến năm 2005 không có gì thay đổi lớn. Danh sách các xã, xóm xửa huyện Xuân Trường như sau:[sửa | sửa mã nguồn]
1- Xã Thọ Nghiệp gồm các thôn Lạc Nghiệp, Thổ, Đoài Cựu, Đa Cốt, Tự Lạc, Nhân Thọ, Thiên Thiện, Trà Thuỷ (thuộc tổng Trà Lũ cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
2- Xã Xuân Bắc gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 12 và làng cổ Trà Đông (thuộc tổng Trà Lũ, Thuỷ Nhai cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
3- Xã Xuân Châu gồm các xóm Cộng Hoà, Đinh, Lê Lợi, Đoàn Kết, Tân Dân, Phan Bội Châu, Tuần, Đại Đồng (thuộc tổng Hành Thiện cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
4- Xã Xuân Đài gồm các thôn Truỳ Khê, An Phú Nội, An Phú Ngoại, Lãng Lăng, Ngũ Khu (thuộc tổng Hành Thiện cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
5 – Xã Xuân Hoà gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 18 (thuộc tổng Kiên Lao cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
6- Xã Xuân Hồng gồm các thôn Hành Thiện, Phú Thuỷ, Hồng Thiện, xóm Chài (thuộc tổng Hành Thiện cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
7- Xã Xuân Hùng gồm các thôn Cấp Tứ, Xuân Bảng, Hội Khê, Ngọc Tỉnh, Bắc Câu, Trà Thượng (thuộc tổng Kiên Lao cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
8- Xã Xuân Kiên gồm các xóm 8. 9. 10A, 10B, 13, 14, 15, 16, 19A,19B, 19C (thuộc tổng Kiên Lao cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
9- Xã Xuân Ngọc gồm thôn Liêu Thượng, Bùi Chu, phố Bùi Chu, Trung Lễ, Liêu Hạ, Trung Linh, Hạ Linh, Phú An, Phố Mới (thuộc tổng Thuỷ Nhai cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
10- Xã Xuân Ninh gồm các thôn Nghĩa Xá, Hưng Nhân, Xuân Dục (thuộc tổng Kiên Lao cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
11- Xã Xuân Phong gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 18 (thuộc tổng Trà Lũ cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
12- Xã Xuân Phú gồm các xóm Trung Tiến, Cộng Hoà, Bình Minh, Quyết Thắng, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Đoàn Kết, Hoàng Anh, Cố Gắng, La Văn Cầu, Hạnh Phúc, Đông Thượng, Tây Nam, Giải Phóng, Xuân Châu (thuộc tổng Cát Xuyên cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
13- Xã Xuân Phương gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 6 và hai xóm Nam, Bắc (thuộc tổng Trà Lũ, Thuỷ Nhai cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
14- Xã Xuân Tân gồm các thôn An Đạo Liêu Đông, Nam Phú (thuộc tổng Cát Xuyên cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
15- Xã Xuân Thành gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 12 (thuộc tổng Cát Xuyên cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
16- Xã Xuân Tiến gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 10 (thuộc tổng Kiên Lao cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
17- Xã Xuân Thuỷ gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 14 (thuộc tổng Thuỷ Nhai cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
18- Xã Xuân Thượng gồm các thôn Trung, Đoài, Bắc.[sửa | sửa mã nguồn]
19- Xã Xuân Trung gồm các xóm gọi theo thứ tự từ 1 đến 11 (thuộc tổng Trà Lũ cũ).[sửa | sửa mã nguồn]
20- Xã Xuân Vinh gồm các thôn An Cư, Quốc Khánh, Quang Trung, Nam Hải, Nam Hồng.[sửa | sửa mã nguồn]
Nghị định của Chính phủ số 137/2003 ngày 14 – 11 – 2003 thành lập thị trấn Xuân Trường gồm toàn bộ diện tích và dân cư của xã Xuân Hùng và một phần diện tích và dân cư của xã Xuân Ngọc. Xã Xuân Hùng được giải thể, trở thành đất của thị trấn huyện lỵ Xuân Trường. Từ đây huyện Xuân Trường có 19 xã và 1 thị trấn. [1][sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện gồm 1 thị trấn Xuân Trường (huyện lị, thành lập ngày 14-11-2003 trên cơ sở giải thể xã Xuân Hùng) và 19 xã: Thọ Nghiệp, Xuân Bắc, Xuân Châu, Xuân Đài, Xuân Hòa, Xuân Hồng, Xuân Kiên, Xuân Ngọc, Xuân Ninh, Xuân Phong, Xuân Phú, Xuân Phương, Xuân Tân, Xuân Thành, Xuân Thượng, Xuân Thủy, Xuân Tiến, Xuân Trung, Xuân Vinh.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đaminh Nguyễn Chu Trinh, giám mục chánh toà Giáo phận Xuân Lộc.
  • Đặng Xuân Khu (Hiệu: Trường Chinh): Cố Tổng Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam
  • Đặng Vũ Khiêu (tức Vũ Khiêu): Giáo sư, Anh hùng lao động
  • Đặng Quân Thụy: Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội
  • Đặng Hồi Xuân: Cố Bộ trưởng Bộ Y tế
  • Đặng Vũ Chư: nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp
  • Đặng Vũ Hỷ: giáo sư, bác sỹ đầu ngành da liễu
  • Đặng Vũ Minh: nguyên Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
  • Đặng Xuân Kỳ: con trai Tổng Bí thư Trường Chinh, nguyên Viện trưởng Viện Mác-Lê nin
  • Nguyễn Đăng Kính: Anh hùng lực lượng vũ trang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự Trung ương Việt Nam
  • Đặng Quốc Bảo: UVTrung ương Đảng PGS -Thiếu tướng, Trưởng ban khoa giáo TW
  • Nguyễn Viết Thông: P.Giáo sư, Tiến sĩ, Tổng thư ký hội đồng lý luận TW
  • Nguyễn Viết Nhiên: Chuẩn Đô đốc (Thiếu tướng), Tiến sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Phó Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam
  • Lê Hùng Mạnh: Trung tướng, Chính ủy bộ tư lệnh quân khu thủ đô.
  • Đinh Thế Huynh: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng CSVN, Thường trực ban bí thư TW
  • Đinh Thị Vân: Đại tá QDND Việt Nam. Tổng cục 2 BQP. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân(em gái đ/c Đinh Thúc Dự)
  • Nguyễn sỹ Quốc: Thiếu tướng.GS, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam
  • Nguyễn Bích Đạt: PGS.TS,Thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư (Nguyên Hiệu phó Trường Đại học Thương mại)
  • Phạm Gia Triệu: Thiếu tướng, GS.TS, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Việt Tiến: Thiếu tướng, GS.TS.TTND, Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Phạm Hòa Bình: Thiếu tướng, PGS.TS.TTND, Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • Nguyễn Quang Trung: Thiếu tướng -Cục trưởng Cục Chính trị-Tổng cục 2, Bộ Quốc phòng
  • Phạm Công Tạc: TS thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ Việt Nam
  • Nhà văn, nhà thơ Xuân Vũ Trần Đình Ngọc.
  • Trần Thị Tâm Đan: UVTrung ương Đảng. Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Thanh thiếu niên và nhi đồng Quốc hội

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Làng dệt lụa Ngọc Tiên - trồng dâu nuôi tằm...
  • Làng nghề thủ công mỹ nghệ, sơn son thiếp vàng Thánh Tâm Xuân Phương
  • Làng thêu tranh Phú Nhai Xuân Phương
  • Làng nghề đúc chuông Xuân Tiến
  • Làng nghề nấu rượu, bánh đa 'Xuân Tiến
  • Làng bán rau thơm Hành Thiện
  • Làng cốm, làng cót, làng mộc Xuân Bắc
  • Truyền thống vận tải thủy Xuân Trung
  • Làng nghề đậu phụ Thuỷ Nhai - Xuân Thuỷ
  • Làng nghề dệt chiếu: Xuân Dục, Xuân Ninh, Xuân Trường
  • Làng cơ khí Xuân Tiến
  • Làng Vạn Chuột Xuân Phong

Đặc sản địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gạo tám hương xã Xuân Đài (Đặc sản
  • Rượu Kiên Lao (xã Xuân Kiên)
  • Thịt chuột Vạn Lộc {xã Xuân Phong}

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]



Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Nam Định, Việt Nam
Thành phố (1): Nam Định
Huyện (9): Nghĩa Hưng | Hải Hậu | Giao Thủy | Vụ Bản | Ý Yên | Trực Ninh | Xuân Trường | Nam Trực | Mỹ Lộc