Nam Trực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nam Trực

Picto infobox map.png
Huyện
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhNam Định
Thành phốthành phố Nam Định
Huyện lỵNam Giang, Nam Trực
Trụ sở UBNDTL490, thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực
Phân chia hành chính19 xã, 1 thị trấn
Thành lập1833
Chính quyền
Chủ tịch UBNDNguyễn Đức Tiến
Chủ tịch HĐNDLê Quang Huy
Bí thư Huyện ủyLê Quốc Chỉnh
Địa lý
Tọa độ: 20°19′58″B 106°10′40″Đ / 20,33278°B 106,17778°Đ / 20.33278; 106.17778Tọa độ: 20°19′58″B 106°10′40″Đ / 20,33278°B 106,17778°Đ / 20.33278; 106.17778
Diện tích163,89 km2 (năm 2017 UBND huyện)
Múi giờUTC+7
Dân số (2017)
Tổng cộng194.112 người
Thành thị17.950 người
Nông thôn176.162 người
Mật độ1.184 người/km2
Dân tộcKinh Mường
Khác
Mã hành chínhVN - 362[1]
Mã bưu chính420000
Mã điện thoại(228) 3
Biển số xe18 - K1
Websitenamtruc.namdinh.gov.vn

Nam Trực là một huyện của tỉnh Nam Định [1][2].

Huyện Nam Trực nằm ở cửa ngõ phía nam thành phố Nam Định, phía bắc tiếp giáp thành phố Nam Định, phía nam giáp huyện Trực Ninh, phía đông giáp huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình), phía tây giáp huyện Vụ Bản và huyện Nghĩa Hưng, có sông Hồng và sông Đào chảy qua. Thị trấn Nam Giang là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của huyện.

Diện tích: 163,89 km2 

Dân số: 194.112 người (2017)

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị hành chính cấp bao gồm thị trấn Nam Giang (huyện lị) và 19 xã: Bình Minh, Điền Xá, Đồng Sơn, Hồng Quang, Nam Cường, Nam Dương, Nam Hải, Nam Hoa, Nam Hồng, Nam Hùng, Nam Lợi, Nam Mỹ, Nam Thái, Nam Thắng, Nam Thanh, Nam Tiến, Nam Toàn, Nghĩa An, Tân Thịnh.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Phía bắc huyện tiếp giáp thành phố Nam Định, phía đông giáp tỉnh Thái Bình, phía nam giáp huyện Trực Ninh, phía tây giáp huyện Nghĩa Hưng và huyện Vụ Bản. Huyện Nam Trực có các sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Nam Định. Đây vốn là mảnh đất màu mỡ, phù hợp cho sự phát triển của nông nghiệp.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích đất tự nhiên của huyện là 16.171 ha, chiếm 9,79% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, gồm: Đất nông nghiệp 11.579 ha, chiếm 71,61%; đất phi nông nghiệp 4.522 ha, chiếm 27,96% và đất chưa sử dụng 70 ha, chiếm 0,43%.

Địa hình Nam Trực rất thuận lợi cho sự phát triển của ngành nông nghiệp. Phía bắc và phía nam là vùng trũng, thuận lợi cho việc trồng lúa nước, vùng giữa huyện từ tây sang đông, dọc theo con đường Vàng thuận lợi cho việc phát triển các loại hoa màu và cây công nghiệp. Vùng đồng bãi chạy dọc theo đê sông Đào dài 15 km phía tây huyện và theo đê sông Hồng 14 km phía đông huyện thuận lợi cho việc phát triển rau màu và nghề trồng dâu nuôi tằm. Chạy dọc từ bắc xuống nam là sông Châu Thành cùng với các nhánh sông khác, thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển giao thông đường thuỷ; sông Hồng, sông Đào là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn huyện.

Từ Bắc xuống Nam huyện có có quốc lộ 21 dài 13 km ở phía Đông và tỉnh lộ 490C (đường 55 cũ) dài 15,8 km ở phía tây; từ đông sang tây có 3 tuyến đường giao thông chạy song song từ đường 21 sang đường 490C gồm các tuyến đường: Đường Vàng, đường Trắng, đường Đen, tạo nên hệ thống giao thông thuỷ bộ liên hoàn rất thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu huyện Nam Trực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thời Bắc thuộc, Nam Trực thuộc huyện Tây Chân, là yết hầu của phủ Thiên Trường.
  • Thời Trần, Nam Trực là vọng gác phía nam của Nam Định.
  • Thời thuộc Minh, là phủ Phụng Hoá.
  • Thời Lê Trung Hưng, do kiêng huý chúa Tây Vương Trịnh Tạc, Tây Chân được đổi thành Nam Chân.
  • Thời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 14 (năm 1833), Nam Chân được chia thành hai huyện Nam Chân và Chân Ninh, sau đổi thành Nam Trực và Trực Ninh.
  • Sau năm 1954, huyện Nam Trực có 31 xã: Nam An, Nam Bình, Nam Chấn, Nam Cường, Điền Xá, Nam Đồng, Nam Dương, Nam Giang, Nam Hải, Nam Hoa, Nam Hồng, Nam Hùng, Nam Lợi, Nam Long, Nam Minh, Nam Mỹ, Nam Nghĩa, Nam Ninh, Nam Phong, Nam Phúc, Nam Quan, Nam Quang, Nam Sơn, Nam Tân, Nam Thắng, Nam Thịnh, Nam Tiến, Nam Toàn, Nam Trung, Nam Vân, Thái Sơn.
  • Năm 1968, hai huyện Nam Trực và Trực Ninh sáp nhập thành huyện Nam Ninh.
  • Ngày 21-8-1971, hợp nhất xã Nam Đồng và xã Nam Sơn thành một xã lấy tên là xã Đồng Sơn.
  • Ngày 23-2-1977, hợp nhất xã Nam Bình và xã Nam Minh thành một xã lấy tên là xã Bình Minh; cắt thôn Nam Sơn của xã Thái Sơn vào xã Nam Phúc lấy tên xã mới là xã Nam Thái; hợp nhất xã Nam Lợi và xã Nam Quan thành một xã lấy tên là xã Nam Lợi.
  • Ngày 1-2-1978, hợp nhất xã Nam Hồng và xã Nam Trung thành một xã lấy tên là xã Nam Hồng; hợp nhất xã Nam Long và xã Nam Ninh thành một xã lấy tên là xã Nam Thanh.
  • Ngày 27-3-1978, hợp nhất xã Nam Điền và xã Nam Xá thành một xã lấy tên là xã Điền Xá; hợp nhất xã Nam Chấn và xã Nam Quang thành một xã lấy tên là xã Hồng Quang; hợp nhất xã Nam Tân và xã Nam Thịnh thành một xã lấy tên là xã Tân Thịnh; hợp nhất xã Nam An và xã Nam Nghĩa thành một xã lấy tên là xã Nghĩa An.
  • Ngày 2-1-1997, 2 xã Nam Phong và Nam Vân được sáp nhập về thành phố Nam Định.
  • Ngày 26-2-1997, thực hiện Nghị định 19/NĐ-CP của Chính phủ, huyện Nam Ninh lại chia thành 2 huyện Nam Trực và Trực Ninh sau 29 năm hợp nhất. Huyện Nam Trực khi đó gồm 20 xã: Bình Minh, Điền Xá, Đồng Sơn, Hồng Quang, Nam Cường, Nam Dương, Nam Giang, Nam Hải, Nam Hoa, Nam Hồng, Nam Hùng, Nam Lợi, Nam Mỹ, Nam Thái, Nam Thắng, Nam Thanh, Nam Tiến, Nam Toàn, Nghĩa An, Tân Thịnh.
  • Ngày 14-11-2003, chuyển xã Nam Giang thành thị trấn Nam Giang - thị trấn huyện lị huyện Nam Trực.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp nay vẫn là ngành nghề chính của nhân dân nơi đây. Công nghiệp chưa phát triển, chỉ giới hạn trong một số ngành thủ công nghiệp truyền thống tuy nhiên rất manh mún. Trước thời "đổi mới", xã Nam Giang tổ chức sản xuất tổng hợp các mặt hàng Phụ tùng xe đạp, vật dụng trong nhà bếp, dụng cụ cho nông nghiệp, các sản phẩm từ lò rèn trong một "Hợp tác xã" của 4 hợp tác xã thành viên là "Hợp tác xã Tiền Tiến". Làng Vân Chàng thuộc xã Nam Giang là một làng nghề truyền thống thợ rèn và có nguồn gốc ông tổ nghề Rèn ở Núi Tiên { Rú Tiên} Cụm Quần Thể Văn hóa Tiên Sơn ở làng rèn truyền thống Minh lang Vân Chàng{ thuộc tổng Trung Lương} Nay là phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Từ 2005, xã Nam Giang đã nâng cấp lên thành thị trấn Nam Giang, 55.000 người. Tiểu công nghiệp các ngành kim loại phát triển trở thành một địa phương có cơ sở hạn tầng hoàn bị để sản xuất mọi mặt hàng, như kéo, dao, đồ dùng gia dụng, linh kiện xe đạp, xe máy, xe ô tô, các thành phẩm, bán thành phẩm từ lò đúc gang, thép, kim loại màu, và các nhà máy cán thép, kim loại. Thương hiệu từ xưa đã đi vào lòng dân tộc của xã Vân Chàng: tràng đục chữ "C", kéo "Sinh Tài",... Sau này có vành xe đạp "Tiền Tiến",...

Thời kỳ 2010-2013 nền kinh tế của huyện Nam Trực có bước tăng trưởng khá và luôn giữ ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế đang được tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân là 11-12%/năm. Cơ cấu kinh tế như sau: Nông nghiệp - thuỷ sản chiếm 21,5 %; Công nghiệp - xây dựng chiếm 56,4% và Ngành dịch vụ chiếm 22,1%.

Làng nghề: Làng Báo Đáp - Hồng Quang - Nam Trực nổi tiếng cả nước với nghề làm đèn ông sao và hoa giấy. Nghề làm Nón lá ở xóm Rục Kiều thôn Cổ Gia - Nam Hùng - Nam Trực. Làng Dệt vải ở thôn Liên Tỉnh - Nam Hồng - Nam Trực, ...

Đầu tư và xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn huyện năm 2017 là 2192,2 tỷ đồng, tăng 15,4% so với năm 2016, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 385,1 tỷ đồng, khu vực ngoài Nhà nước 1404,7 tỷ đồng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 402,3 tỷ đồng. Các nguồn lực được huy động để phục vụ cho xây dựng nông thôn mới, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của huyện, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, thiết bị sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Toàn huyện có 384 cơ sở (33 doanh nghiệp, 351 cơ sở cá thể) với 3036 lao động hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2017 là 1323,1 tỷ đồng, tăng 16,3% so với năm 2016.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm các loại 2017 đạt 20018 ha, giảm 1,4% so với năm 2016. Trong đó, diện tích cây lương thực có hạt 17384 ha, riêng diện tích trồng lúa là 17013ha. Năng suất lúa cả năm 105,84 tạ/ha, sản lượng lương thực có hạt 90153 tấn. Đến 1/10/2017, có 571 con trâu (giảm 2,1% - 12 con), 3509 con bò (giảm 7,4% - 280 con), đàn gia cầm là 706,6 nghìn con, giảm 0,3%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 15100 tấn Sản lượng gỗ 2017 đạt 55 m3 gỗ và 440 ste củi. Năm 2017, có 605 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, sản lượng 2520 tấn.

Sản xuất công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2017, có 3270 cơ sở sản xuất công nghiệp: 84 DN tư nhân, 6 HTX, 3177 cơ sở SX cá thể, 3 DN có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng số lao động 16087 người, tăng 1,5%. Giá trị sản xuất CN năm 2017 6434,4 tỷ đồng.

Thương mại, dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2017, toàn huyện có 21 chợ, 133 doanh nghiệp, 3 HTX và 6059 cơ sở cá thể với 11103 lao động hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2017 theo giá hiện hành là 1692,2 tỷ đồng, tăng 11,9% so với năm trước.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thống giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngàn xưa, nhân dân Nam Trực đã có truyền thống hiếu học. Trong các khóa thi do các triều đại phong kiến tổ chức, Nam Trực có 18 người đạt học vị tiến sỹ (trong khi cả tỉnh có 62 người đỗ tiến sỹ và phó bảng), 3 trong tổng số 5 trạng nguyên của tỉnh Nam Định là người Nam Trực. Riêng làng Cổ Chử có Trần Văn Bảo đỗ trạng nguyên, con là Trần Đình Huyên đỗ tiến sỹ. Đặc biệt, ở đời nhà Trần, Nguyễn Hiền quê ở làng Dương A (xã Nam Thắng) đỗ trạng nguyên khi mới 13 tuổi - trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Một số cá nhân khoa bảng khác của Nam Trực: Bảng nhãn Lê Hiến Giản (1341-1390?), Tiến sỹ Lê Hiến Từ (1341-1390?), Tiến sỹ Phạm Khắc Thận (1441-1509), Tiến sỹ Nguyễn Ý (1485-?), ...

Giai đoạn hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giáo dục mầm non [3]

Giáo dục mầm non ở huyện Nam Trực gồm chỉ gồm các cơ sở giáo dục công lập với số lượng ổn định là 33 cơ sở từ năm 2010 đến 2017. Năm 2018 giảm xuống sau khi thực hiện đề án sáp nhập các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học trong huyện. Số lớp học tăng từ 320 lớp năm 2010 lên 380 lớp năm 2017 Số lượng giáo viên cũng tăng liên tục từ 323 giáo viên (2010) lên 755 giáo viên (2017). Cùng với đó, số lượng học sinh cũng tăng từ 6824 em (2010) lên 11334 em (20170, kéo theo đó là số học sinh bình quan trên một lớp học tăng từ 21 học sinh/lớp (2010) lên 30 học sinh/lớp (2017).

  • Giáo dục phổ thông[4]
2010 2014 2015 2016 2017
Số trường học (Trường) 70 66 66 61 61
Tiểu học 33 33 33 33 33
Công lập 33 33 33 33 33
Ngoài công lập
THCS 31 27 27 22 22
Công lập 31 27 27 22 22
Ngoài công lập
THPT 6 6 6 6 6
Công lập 4 4 4 4 4
Ngoài công lập 2 2 2 2 2
Số lớp học (Lớp) 1023 951 949 934 943
Tiểu học 513 485 490 487 495
Công lập 513 485 490 487 495
Ngoài công lập
THCS 362 334 329 317 318
Công lập 362 334 329 317 318
Ngoài công lập
THPT 148 132 130 130 130
Công lập 117 102 102 102 102
Ngoài công lập 31 30 28 28 28

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Số cơ sở y tế, giường bệnh do cấp huyện quản lý [5][sửa | sửa mã nguồn]

2010 2014 2015 2016 2017
TỔNG SỐ 312 274 256 268 275
Số nhân lực ngành y 284 228 222 220 230
Bác sĩ 37 37 36 38 39
Y sĩ 66 62 55 79 77
Điều dưỡng 141 68 76 70 79
Hộ sinh 61 55 30 32
Kỹ thuật viên Y 3 3
Khác 40
Số nhân lực ngành dược 28 46 34 48 45
Dược sĩ 1 3 3 4 4
Dược sĩ cao đẳng, trung cấp 18 25 20 42 39
Dược tá 9 18 11 2 2
Kỹ thuật viên dược
Khác

Số nhân lực y tế do cấp huyện quản lý[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia [6][sửa | sửa mã nguồn]

  • Đền chùa Thọ Tung
  • Đền Am
  • Di tích đền Thượng Lao, đền Xối Thượng và hai vị Đại khoa đời Trần
  • Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiền
  • Đền Gin
  • Đền Giao Cù
  • Chùa Đại Bi
  • Đình Xám
  • Đền An Lá, Xã Nghĩa An

Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh [7][sửa | sửa mã nguồn]

  • Đền Cả, làng Đỗ Xá, xã Điền Xá
  • Đền Quán Các, xã Tân Thịnh
  • Đình, chùa, miếu thôn Rạch, xã Hồng Quang
  • Chùa Na, đền Thượng, thôn Bách Tính, xã Nam Hồng
  • Đền Thái Hòa, thôn Bách Tính, xã Nam Hồng
  • Đền Thạch Cầu, xã Nam Tiến
  • Đình Tây Lạc, xã Đồng Sơn
  • Đình Tứ Giáp, xã Nam Cường
  • Đền Tiền Vinh, xã Nam Thái
  • Đình, chùa Đồng Côi
  • Đình làng Vân Chàng
  • Chùa Hưng Đễ, xã Nam Hoa
  • Chùa Đồng Quỹ, xã Nam Tiến
  • Từ đường họ Phạm, thôn Ngưu Trì, xã Nam Cường
  • Quần thể di tích đền, chùa, động, phủ Thanh Am
  • Đình Vị Khê
  • Đền Đồng Phù
  • Chùa Vân Đồn, xã Nghĩa An
  • Đình Xuân Lôi
  • Cầu Ngói, chợ Thượng, xã Bình Minh

Cá nhân tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trạng nguyên

Huyện Nam Trực có 3 vị trạng nguyên trong tổng số 5 trạng nguyên của tỉnh Nam Định, trong 49 vị trạng nguyên nước Việt. Đó là các vị: Nguyễn Hiền, Vũ Tuấn Chiêu, Trần Văn Bảo.

  • Phó thủ tướng

- Ông Đặng Việt Châu, xã Nam Hồng;

- Ông Vũ Văn Ninh, xã Nam Dương;

- Ông Ngô Xuân Lộc, xã Nam Hồng, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng

  • Bộ trưởng

- Ông Mai Chí Thọ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Đại tướng Công an Nhân dân Việt Nam.

- Ông Đinh Đức Thiện, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

  • Chính khách

- Ông Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung Ương.

- Ông Trần Xuân Bách, Ủy viên BCT, Bí thư Trung ương Đảng

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tại thị trấn Nam Giang, Thôn Cẩm Nang (Giáp Ba) và Thượng thôn Kinh Lũng (Giáp Tư) có lễ hội chợ Viềng họp hàng năm vào ngày 8 tháng giêng Âm lịch. Đáng kể là Hội chùa Bi để ghi ơn Đức Thánh Tăng Từ Đạo Hạnh mỗi năm vào ngày 21 tháng Giêng Âm Lịch kéo dài 4 ngày và hội này có giá trị văn hóa lớn đã có bề dày lịch sử từ gần 1000 năm. Bên cạnh phía Đông Chùa Đại Bi còn có khu danh lam thắng cảnh Đền Giáp Ba, khu di tích này còn lưu giữ nhiều hoành phi câu đối, đồ thờ khí tự cổ từ thời Hậu Lê vẫn còn nguyên giá trị. Khu di tích này được công nhận di tích lịch cấp quốc gia vào ngày 28 tháng 1 năm 1994. Đền thờ Triệu Việt Vương Hoàng đế ngày mở hội từ 12/8 âm lịch đến ngày 14/8 (đây cũng là ngày chính kỵ). Đền thờ Vua có lối kiến trúc kiểu cung đình hài hòa cân đối, điều đặc sắc ở đây hàng năm tổ chức lễ hội dân làng làm cỗ mỗi nhà một mâm xôi gà lên dâng thánh, tế song, còn có lễ khao quân đây là một nét đẹp trong vùng không nơi nào có được.

Chùa Bi còn gọi là Đại Cổ Bi là một chứng tích lịch sử bằng gỗ lim từ triều Lý được gìn giữ gần như toàn vẹn, không bị các trùng tu thay đổi. Tương truyền những nơi này là nơi quân Tây Sơn đi qua làm lễ khao quân. Kết hợp văn hóa Phật giáo và làng nghề truyền thống là môi sinh cho đời sống đạo đức, văn hóa, có bản năng hiếu khách và dân làng đã có công đem nghề rèn ra khắp ba miền Trung, Nam, Bắc. Tương truyền cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng đã có giao lưu với các nhà Nho thợ rèn và đã gói về nhà vế đối: "sắc không, không sắc".

Với nghề rèn và văn hóa chữ "Nôm" do Thánh Tăng Từ Đạo Hạnh truyền cho, dân làng đã đóng góp cho đất nước bằng kỹ năng và trí tuệ của mình. Từ xưa huyện Nam Trực đã là đất hiếu học với bốn vị trạng nguyên trong đó có Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên khi mới mười hai tuổi. Làng Vân Chàng còn có một trạng nguyên là "Thợ Rèn".[cần dẫn nguồn].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 11/04/2019.
  2. ^ Tập bản đồ hành chính Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2013.
  3. ^ “NIÊM GIÁM THỐNG KÊ HUYỆN NAM TRỰC NĂM 2017”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ “NIÊM GIÁM THỐNG KÊ HUYỆN NAM TRỰC NĂM 2017”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019. 
  5. ^ “NIÊM GIÁM THỐNG KÊ HUYỆN NAM TRỰC NĂM 2017”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019. 
  6. ^ “Di tích LSVH cấp quốc gia”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019. 
  7. ^ “Di tích LSVH cấp tỉnh”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Danh sách xã, thị trấn thuộc huyện Nam Trực