Cờ tướng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cờ tướng
Xiangqi1.JPG
Bàn cờ tướng lúc bắt đầu với 32 quân
Số người chơi 2
Thời gian chuẩn bị < 2 phút
Thời gian chơi Tùy điều lệ của giải đấu, thường là 25 phút mỗi bên
May rủi ngẫu nhiên Không
Kỹ năng Chiến thuật, Chiến lược

Cờ tướng (Tiếng Trung: 象棋), hay còn gọi là cờ Trung Hoa (Tiếng Trung: 中國象棋), là một trò chơi trí tuệ phổ biến của Trung Quốc dành cho hai người. Đây là trò chơi phổ biến nhất tại 1 số các đất nước như Trung Quốc đại lục, Việt Nam, Đài LoanSingapore; và nó nằm trong cùng một thể loại cờ với cờ vua, shogi, janggi.

Trò chơi này mô phỏng cuộc chiến giữa hai quốc gia, với mục tiêu là bắt được Tướng của đối phương hoặc là bao vây quân Tướng. Các đặc điểm khác biệt của cờ tướng so với các trò chơi cùng họ là: các quân đặt ở giao điểm các đường thay vì đặt vào ô, quân Pháo phải nhảy qua 1 quân khi ăn quân, các khái niệm sông và cung nhằm giới hạn các quân Tướng, Sĩ và Tượng.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích của ván cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Ván cờ được tiến hành giữa hai người, một người cầm quân Trắng (hay Đỏ), một người cầm quân Đen (hay Xanh). Mục đích của mỗi người là tìm mọi cách đi quân trên bàn cờ theo đúng luật để chiếu bí hay bắt Tướng (hay Soái) của đối phương.

Bàn cờ và quân cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn cờ là hình chữ nhật do 9 đường dọc và 10 đường ngang cắt nhau vuông góc tại 90 điểm hợp thành. Một khoảng trống gọi là sông nằm ngang giữa bàn cờ, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau. Mỗi bên có một cung Tướng hình vuông do 4 ô hợp thành tại các đường dọc 4, 5, 6 kể từ đường ngang cuối của mỗi bên, trong 4 ô này có vẽ hai đường chéo.

Theo quy ước, khi bàn cờ được quan sát chính diện, phía dưới sẽ là quân Trắng (hoặc Đỏ), phía trên sẽ là quân Đen (hoặc Xanh). Các đường dọc bên Trắng (Đỏ) được đánh số từ 1 đến 9 từ phải qua trái. Các đường dọc bên Đen (Xanh) được đánh số từ 9 tới 1 từ phải qua trái.

Mỗi ván cờ lúc bắt đầu phải có 32 quân cờ chia đều cho mỗi bên gồm 16 quân Trắng (Đỏ) và 16 quân Đen (Xanh), gồm bảy loại quân. Tuy tên quân cờ của mỗi bên có thể viết khác nhau (ký hiệu theo chữ Hán) nhưng giá trị và cách đi quân của chúng lại giống nhau hoàn toàn. bảy loại quân có ký hiệu và số lượng cho mỗi bên như sau:

Quân Ký hiệu Số lượng
Tướng (Soái) Tướng(hoặc Soái) 1
Sĩ 2
Tượng Tượng 2
Xe Xe 2
Pháo Pháo 2
Mã 2
Tốt (Binh) Tốt (hoặc Binh) 5

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hình thành của tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Chơi cờ tại Seattle, Hoa Kỳ
Một thanh niên người Mỹ gốc Việt chơi cờ tướng trên một bàn cờ khổng lồ tại hội chợ TếtOrange County, California, Hoa Kỳ
2 người Trung Quốc đang chơi cờ tướng ở tại địa cấp thị Đại Đồng,tỉnh Sơn Tây,cờ tướng là 1 trò chơi phổ biến nhất Trung Quốc

Xiangqi(Cờ tướng) và Xiangxi có nhiều nghĩa trong tiếng Trung: từ xưa đến nay có thể chỉ Liubo, Pangqi, Go, Shuanglu, các trò chơi tượng trưng, ​​viết tắt của cờ Tướng, và các trò chơi cờ khác nhau.

• Thuật ngữ cờ tướng xuất hiện lần đầu tiên vào thời Chiến Quốc, dùng để chỉ quân cờ làm bằng ngà voi, và cũng có thể dùng để chỉ Liubo, tượng trưng cho trò chơi chim săn mồi. Vì quân cờ Liubo có chất liệu khác nên một số người cho rằng cờ tướng là một trò chơi tượng trưng. “Sở từ: Chiêu hồn”: “Một ván cờ như vậy, có sáu ván.” Lời chép của Vương Nghị: “Dùng tre làm đũa, còn ngà voi làm quân cờ.” “Shuoyuan · Shanshuo”: “Chim én đánh cờ và múa. Zheng Nv. ", Trường Sa Mawangdui số 3 Lăng mộ thời Tây Hán:" Bo một; ván một; cờ mười hai; voi ăn hai mươi; voi tre? Ba mươi; voi cắt một; voi chặt một; Miệng voi mồm miệng miệng voi. ”Thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng cho cờ vua, cờ vua, cờ vây, đôi đất và các loại cờ khác sử dụng ngà voi hữu dụng làm quân cờ.

• Thuật ngữ kinh kịch voi xuất hiện lần đầu tiên vào thời Bắc Chu, nó tương tự như kinh kịch voi thời Bắc Chu về chơi cỏ và chơi ngựa. Ý nghĩa sớm nhất là một trò chơi tượng trưng. Kinh kịch Bắc Chu Xiang do Hoàng đế Ngô của nhà Hậu Chu sáng tạo và biên soạn "Xiang Jing" có hình ảnh của mặt trời, mặt trăng và các vì sao, và tên của vở kịch con voi xuất phát từ đó.

• Kể từ triều đại nhà Đường và nhà Tống, Xiang Opera có thể đề cập đến các trò chơi cờ tượng trưng cho chiến tranh, chẳng hạn như Baoying Xiang Opera và Elephant Opera. Lời nói đầu của Chao Bu trong "Kinh kịch Quảng Tây" của Chao Bu: "Kinh kịch cũng là một vở tuồng quân sự. Trận chiến của Hoàng đế xua thú làm chiến trường; voi cũng là anh hùng của dã thú, vì vậy người lính kinh kịch được đặt tên theo kinh kịch voi."

• Sau thời Tống, thuật ngữ "cờ tướng" bắt đầu được sử dụng trong cờ tướng và trở thành một tên gọi đặc biệt. Vào thời Bắc Tống, một số người coi Shuanglu là cờ tướng. Xiang Opera đã trở thành cái tên tao nhã và cổ xưa của cờ tướng.

• Trong thời hiện đại, cờ tướng có thể nói đến nhiều trò chơi cờ khác nhau.

• Một trong những hình cờ (pha) hoàn toàn có nguồn gốc từ hình cờ tương tự của cờ vua Ấn Độ cổ đại, hai nước đi hoàn toàn giống nhau, di chuyển chéo nhau thành hai hình vuông, tức là chữ "Tian", do đó, hai hình này loại trừ lẫn nhau. Không thể tấn công bên kia. Quân cờ trong cờ tướng cũng có nguồn gốc từ quân cờ trong cờ vua Ấn Độ, sau đó vào thế kỷ 16, hai phần nhô ra tượng trưng cho ngà voi trên quân cờ giống với mũ của quân cờ, chúng được đặt tên là Bishop trong tiếng Anh và các nước đi của chúng là đường chéo. Hai lưới cố định trở nên xiên góc cố định

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ Ấn Độ du nhập vào Trung Quốc và trở thành tiền thân của cờ tướng cũng như Shogi của xứ Nhật Bản, và khi cờ tướng Trung Quốc du nhập vào Triều Tiên thì thành cờ Janggi; trong khi cờ Ấn Độ sang bên Tây phương thì thành cờ vua. Và cuối cùng, người Trung Quốc chuyển thành cờ tướng vào khoảng thời kỳ nhà Tống.Nhà sử học cờ tướng người Đức Peter Banaschak đã chỉ ra rằng cờ tướng Baoying, không có "pháo" trong "Xuanguailu" do thời đó chưa có pháo của Niu Sengru,ngài tể tướng của nhà Đường, là nguồn gốc thực sự của cờ tướng hiện đại tức là thời Đường đã manh nha trò chơi cờ tướng hiện đại rồi cờ tướng hiện đại hoàn toàn xuất hiện bởi người Trung Hoa vào thời kỳ nhà Tống.

Truyền thuyết sơ khai và sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thuyết dân gian, cờ tướng do Hàn Tín sáng lập. Hàn Tín bị quan Hầu Lỗ bắt giam, muốn viết nghệ thuật chiến tranh nhưng bị cấm đoán nên đã lấy giấy bút sáng chế ra trò chơi “chuyện binh trên giấy” để chơi với quản ngục. Bàn cờ vây có vực sâu (vùng Chuhe, Hán) Sau khi Tướng Hàn Tín bị giết, quản ngục giải nghệ. Và đặt tên trò chơi này là "Cờ tướng".

Loại cờ có thể được xác nhận là một trò chơi cờ ở Trung Quốc là cờ Baoying thời nhà Đường. Từ đời Đường đến đời Tống, cờ tướng hiện nay dần dần phát triển với sự bổ sung thêm pháo và "sông". "Tongya" của Fang Yizhi vào thời nhà Minh: "Cờ tướng bắt đầu từ thời nhà Đường, và" Xiang Jing "của Zhou Wu không phải là vở opera Xiang("Tượng kinh") ngày nay."

Người ta nói rằng có một mảnh gấm Tô Châu giữa triều đại nhà Đường và nhà Tống với chủ đề thư pháp và hội họa Qiqin Bàn cờ là một bàn cờ đen trắng có tám nhân tám, người ta cho rằng đây là bàn cờ của nhà Đường, khiến Tống Tấn hiểu lầm là nhà Tống. Thổ cẩm sản xuất. Hoa văn này là một tấm gấm nặng đầy màu sắc "Qinqi, Thư pháp và Tranh thổ cẩm" mới được thiết kế bởi Nhà máy thổ cẩm Tô Châu chuyên sản xuất đồ thổ cẩm nhà Tống sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hoa văn bàn cờ được lấy từ cờ tướng, không phải đồ cổ nhà Đường và nhà Tống.

Người ta cho rằng Wu Zetian đã mơ được chơi cờ với Da Luo Tiannv trong trò chơi cờ tướng Baoying vào thời nhà Đường.Theo "Phụ bản lịch sử nhà Đường", cuốn tiểu thuyết "Chín lời khuyên của Lương Công" trong Kinh thư nhà Tống và Nguyên Six Admonitions "," Di Renjie Biography "," Tian Zhong Ji "," Yuan Jian Class Letter ", Wu Zetian mơ được chơi trò bắn trả.

Tầm triều đại nhà Tống: Cờ tướng hiện đại hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Xiangqi trong triều đại Bắc Tống bao gồm chơi voi và chơi voi nhỏ. Theo North Korea’s Li Gyujing, “Xiangshu Tufa” ghi rằng không có voi trong vở opera voi nhỏ, nhưng có một cái nỏ. Những con khác là lính, lính, xe, ngựa, pháo và binh lính (mặt còn lại được viết là bậc).

Sau đó, cờ tướng trở nên dân dụng hơn, và nhiều người biết chơi cờ tướng, và người chơi cờ tướng trở thành một nghề. Từ cuối thời Bắc Tống đến thời Nam Tống, nó đã trở thành một hình thức cờ hiện đại, các tướng ở dưới chín cung, quân cờ được làm bằng gốm hoặc đồng, sau này gọi là tiền cờ, là một loại tiền có hình ảnh và văn tự. Voi, ngựa, pháo, xe ngựa, con tốt và không có sự phân biệt giữa đẹp trai, chính thức, tượng, pháo, 傌, 俥 và các biến thể khác. Khi chơi cờ, một bên có thể giữ mặt chữ trong khi bên kia giữ mặt vẽ; Lớp phủ chu sa và các phương pháp khác được phân biệt bằng màu sắc. Trong tác phẩm "Shi Lin Guang Ji" của Chen Yuanliang vào cuối thời Nam Tống, có ghi lại hai ván cờ hoàn chỉnh sớm nhất và cách sắp xếp lâu đời nhất là "Hai con rồng ra biển".

Thời nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khoảng thời kỳ nhà Nguyên của người Mông Cổ tới đầu thời kỳ nhà Minh, sự phát triển của cờ tướng đã xuống thấp do không được các nhà cai trị chú ý. Bắt đầu từ giữa thời nhà Minh, cờ tướng phát triển trở lại, kéo dài suốt thời nhà Minh và nhà Thanh, kéo dài khoảng ba trăm năm. Kỳ thủ cờ tướng nổi tiếng nhất thời nhà Minh là Mr Li Kaixian (1502-1568), người có đẳng cấp vượt trội so với các kỳ thủ quốc gia lúc bấy giờ. Li Kaixian đã để lại hai "Bài ca cờ tướng" mô tả các cảnh và kinh nghiệm trong trò chơi của mình, nhưng tiếc là ông không để lại kỷ lục trò chơi. Đây cũng là thời kỳ cờ Tướng du nhập vào xứ sở Việt Nam.

Các điểm cờ được biên soạn hoặc xuất bản vào thời nhà Minh bao gồm "Giấc mơ vào cỗ máy của Chúa", "Sở thích phù hợp và tao nhã", "Quất Trung Bí", "Sách cờ khác nhau", "Bàn tay bất khả chiến bại từ lỗ", v.v.

Thời nhà Thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Khang Hy, Xu Xingyou (1650-?), Một kỳ thủ quốc gia nổi tiếng, cũng là một kỳ thủ quốc gia, ông đã đi khắp Yanzhao Qilu và những nơi khác và đánh bại các kỳ thủ nổi tiếng địa phương. Vào những năm cuối cùng của Khang Hy, Xu Xingyou đã bị đánh bại bởi một kỳ thủ cờ tướng trẻ tuổi khác là Cheng Lanru (khoảng 1692-?), Người chơi cờ và phong cho danh hiệu "Vua cờ tướng". Vào giữa thời kỳ Càn Long, cờ tướng trở nên phổ biến và nhân tài xuất hiện với số lượng lớn, có 11 người chơi cờ nổi tiếng, trong đó Wujin Zhou Tingmei đặc biệt xuất sắc. Ông đi khắp các tỉnh thành nam bắc, đánh bại các cao thủ nổi tiếng của các môn phái, có hơn hai trăm học trò.

Các điểm cờ do nhà Thanh biên soạn bao gồm "Mai Hoa Phổ", "Tao Lue Yuan Ji", "Ngũ tướng sách cờ", "Tâm võ sách", "Trăm trò chơi cờ", "Tre Xiangzhai sách chơi voi", "Nguyên Thần Hải" "Kuo", "Lan Ke Shenji", "Anti-Plum Blossom Book", v.v ... trong số đó, "Heart Martial Dismemberment", "Hundred Games Chess Book", "Bamboo Xiangzhai Elephant Drama Book", "Four Deep Sea and Kuo" được gọi là "bốn hàng Điểm của cục ”

Bốn điểm xếp hạng chính được tạo ra gần như cùng một thời đại, do nội dung chủ yếu được chọn lọc từ các trò chơi cờ dân gian phổ biến lúc bấy giờ nên có một số điểm lặp lại. trò chơi cờ đại diện cho mức độ cao về nghệ thuật Thanh triều đại của sự sắp xếp là "Gathering of Seven Stars", "Earthworm rơi Rồng", "Wild Horse Caotian", và "A Thousand Miles Alone". Họ là hấp dẫn do sự sắp xếp và sự đa dạng tinh tế của họ, và họ được gọi là "Bốn trò chơi nổi tiếng".

Thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối thời nhà Thanh cho đến đại lục của Trung Hoa Dân Quốc, tình hình hiện nay rối ren, sự phát triển của cờ tướng bị thất thế trong một thời gian. Vào đầu những năm 1930, có một sự kiện lớn ngắn ngủi. Vào tháng 9 năm 1930, "Trò chơi Cờ tướng Hoa Đông và Hoa Nam" được tổ chức tại Hồng Kông. Các đại diện phía Đông Trung Quốc là Chu Đức Dụ và Lâm Dịch Tiên từ Thượng Hải, và các đại diện từ phía Nam Trung Quốc là Lý Khánh Toàn và Phùng Kính Như từ Quảng Châu. Hai bên đã chiến đấu trong 16 hiệp và cuối cùng hòa. Trong số đó, Lý Quý, vị tướng chủ lực của Nam Trung Quốc, là người duy nhất bất bại trong toàn bộ và được phong danh hiệu "Bất khả chiến bại".

Vào đầu năm sau, "Giải cờ tướng khu vực Hoa Đông và Hoa Bắc" được tổ chức tại Thượng Hải. Các đại diện của Hoa Đông là Chu Đức Dụ và Vạn Khải Hữu, và các đại diện của Hoa Bắc là Triệu Văn Tuyên và Trương Đức Khôi. Kết quả cuộc thi, Chu Đức Dụ ở miền Đông Trung Quốc có số điểm cao nhất, vì lúc đó có năm tỉnh ở Bắc Trung Quốc, và miền Đông Trung Quốc gọi hai tỉnh là Giang Tô và Chiết Giang, nên những người chơi cờ đã kính cẩn gọi Chu Đức Dụ là “Thất tỉnh kỳ vương".

Tạ Hiệp Tốn, nhà hoạt động cờ tướng đã tổ chức hai giải cờ tướng cấp sư đoàn nói trên, không chỉ là một kỳ thủ cờ tướng nổi tiếng, mà còn là một kỳ thủ cờ tướng quốc gia. Ông đã đến Đông Nam Á hai lần vào năm 1935 và 1937, và danh tiếng của ông đã mở rộng ra nước ngoài. Ông cũng biên tập các sách về cờ vua như "Tượng kỳ phổ đại toàn", "tượng kỳ phổ tân biên" và "tượng kỳ chuyên tập Nam Dương".

Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung HoaĐài Loan ở tại Trung Quốc được thành lập sau cuộc Nội chiến Trung Quốc (1949-nay), các kỳ thủ cờ tướng như Dương Quan Lân, Trần Tùng Thuận, Hà Thuận An, Lý Nghĩa Đình và Vương Gia Lương liên tiếp đứng đầu trong thế giới cờ tướng. Vào tháng 1 năm 1956, Ủy ban Thể thao Quốc gia thông báo rằng cờ tướng sẽ được đưa vào các môn thể thao. Tháng 12 cùng năm, Giải vô địch cơ tướng cá nhân toàn Trung Quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Bắc Kinh, Dương Quan Lân, "đệ nhất thiên hạ" trong làng cờ tướng đã giành chức vô địch. Sau đó, ông đã giành được ba chức vô địch quốc gia vào các năm 1957, 1959, và 1962. Thời kỳ này được gọi là "kỷ nguyên Dương Quan Lân" trong lịch sử cờ tướng.

Vào những năm 1960, sự thống trị của Dương Quan Lân dần bị thay thế bởi kỳ thủ trẻ Hồ Vinh Hoa đến từ Thượng Hải. Năm 1960, Hồ Vinh Hoa, khi đó mới 15 tuổi, lần đầu tiên tham gia cuộc thi toàn quốc và giành chức vô địch cá nhân. Đến năm 1979, ông đã giành được mười chức vô địch quốc gia liên tiếp (trong đó ông đã đồng quán quân với Dương Quan Lân năm 1962), và ông được biết đến là "Thập liên bá." Năm 1980, Liễu Đại Hoa đến từ Hồ Bắc đã phá vỡ sự bá chủ liên tục của Hồ Vinh Hoa và giành chức vô địch, và lại vô địch vào năm sau. Kể từ đó, giới cờ đã xuất hiện một tình huống mà các anh hùng sát cánh cùng nhau như là Lý Lai Quần, Hồ Vinh Hoa, Lữ Khâm, Từ Thiên Hồng, Triệu Quốc Vinh, Hứa Ngân Xuyên, Đào Hán Minh và những người khác đã liên tiếp thống trị giải đấu.

Các quân cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng (Soái)[sửa | sửa mã nguồn]

Tướng (Soái)

Quân Tướng đi từng ô một, đi ngang hoặc dọc và luôn luôn ở trong phạm vi cung, không được ra ngoài. Tính theo khả năng chiến đấu thì Tướng là quân yếu nhất do chỉ đi nước một và bị giới hạn trong cung. Tuy nhiên trong nhiều tình huống, đặc biệt khi cờ tàn đòn "lộ mặt tướng" lại tỏ ra rất mạnh.

Tướng được chốt chặt trong cung và có tới 2 Sĩ và Tượng canh gác hai bên.

[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Sĩ đi chéo 1 ô mỗi nước và luôn luôn phải ở trong cung. Như vậy, quân Sĩ có 5 giao điểm có thể đứng hợp lệ và là quân cờ yếu nhất.

Sĩ có chức năng trong việc bảo vệ Tướng, mất Sĩ được cho là nguy hiểm khi đối phương còn đủ 2 Xe hoặc dùng Xe Mã Tốt tấn công. Bỏ Pháo ăn Sĩ rồi dùng 2 Xe hoặc dùng Xe Mã Tốt tấn công tấn công là đòn chiến thuật thường thấy. Khi cờ tàn còn Pháo thì phải chú ý giữ Sĩ để làm ngòi cho Pháo tấn công.

Tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng

Quân Tượng đi chéo 2 ô mỗi nước và không được vượt sang sông. Vì vậy trên bàn cờ, mỗi bên ta có 7 vị trí mà quân Tượng có thể đi được.

Nước đi của Tượng không hợp lệ khi có một quân cờ nằm chặn giữa đường đi. Khi đó gọi là Tượng bị cản và vị trí cản được gọi là "mắt Tượng". Tượng được tính là mạnh hơn Sĩ một chút. Một Tốt qua hà được đổi lấy 1 Sĩ hay 1 Tượng. Tuy nhiên khả năng phòng thủ của Tượng nhỉnh hơn nên nếu Sĩ là 2 thì Tượng là 2,5.

Xe (Xa)[sửa | sửa mã nguồn]

Xe
Xe

Quân Xe đi ngang hoặc dọc trên bàn cờ miễn là đừng bị quân khác cản đường từ điểm đi đến điểm đến. Xe được coi là quân cờ mạnh nhất. Giá trị của Xe thường tính là bằng 2 Pháo hoặc Pháo Mã.

Khai cuộc hai bên thường tranh đưa các quân Xe ra các đường dọc thông thoáng, dễ phòng thủ và tấn công.

Pháo[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo

Quân Pháo đi ngang và dọc giống như Xe. Điểm khác biệt là Pháo muốn ăn quân thì nó phải nhảy qua đúng 1 quân nào đó. Khi không ăn quân, tất cả những điểm từ điểm đi đến điểm đến cũng phải không có quân cản.

Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí là quân Pháo được bổ sung từ cuối thời nhà Đường. Đây là quân cờ ra đời muộn nhất trên bàn cờ tướng vì tới thời đó, pháo được sử dụng trong chiến tranh với hình thức là máy bắn đá. Bấy giờ, từ Pháo (砲) trong chữ Hán được viết với bộ "thạch", nghĩa là đá. Cho đến đời nhà Tống, khi loại pháo mới mang thuốc nổ được phát minh thì từ Pháo (炮) được viết với bộ "hỏa".

Do đặc điểm phải có ngòi khi tấn công, Pháo thường dùng Tốt của quân mình trong khai cuộc, hoặc dùng chính Sĩ hay Tượng của mình làm ngòi để chiếu hết tướng đối phương trong tàn cuộc.

Trên thực tế thì có tới 70% khai cuộc là dùng Pháo đưa vào giữa dọa bắt tốt đầu của đối phương, gọi là thế Pháo đầu. Đối phương có thể dùng Pháo đối lại cũng vào giữa. Nếu bên đi sau đưa Pháo cùng bên với bên đi trước thì khai cuộc gọi là trận Thuận Pháo, đi Pháo vào ngược bên nhau gọi là trận Nghịch Pháo (hay Liệt Pháo).

[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Mã đi ngang 2 ô và dọc 1 ô (hay dọc 2 ô và ngang 1 ô). Nếu có quân cờ nào đó nằm ngay bên cạnh thì Mã bị cản, không được đi đường đó.

Nước đi và nước cản của Mã

Mã do không đi thẳng, lại có thể bị cản nên mức độ cơ động của quân này kém hơn Xe và Pháo. Khi khai cuộc, Mã kém hơn Pháo. Khi tàn cuộc, Mã trở nên mạnh hơn Pháo.

Tốt (Binh)[sửa | sửa mã nguồn]

Tốt
Tốt (Binh)

Quân Tốt đi 1 ô mỗi nước. Nếu Tốt chưa qua sông, nó chỉ được tiến. Nếu Tốt đã qua sông thì được đi ngang hay tiến, không được đi lùi.

Khi đi đến đường biên ngang bên phần sân đối phương, lúc này, chúng được gọi là Tốt lụt.

Trong khai cuộc, việc thí Tốt là chuyện tương đối phổ biến. Ngoại trừ việc phải bảo vệ Tốt đầu, các quân Tốt khác thường xuyên bị xe pháo mã ăn mất. Việc mất mát một vài Tốt ngay từ đầu cũng được xem như việc thí quân.

Đến cờ tàn, giá trị của Tốt tăng nhanh và số lượng Tốt khi đó có thể đem lại thắng lợi hoặc chỉ hòa cờ. Khi đó việc đưa được Tốt qua sông và tới gần cung Tướng của đối phương trở nên rất quan trọng. Tốt khi đến tuyến áp đáy, ép sát cung Tướng thì Tốt mạnh như Xe.

Các luật khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lộ mặt Tướng: Hai quân Tướng không được đối mặt nhau trên cùng một cột. Luôn luôn phải có một quân nào đó nằm ở giữa để che mặt. Nước đi để hai Tướng đối mặt là không hợp lệ.
  • An toàn của Tướng: Sau một nước đi, Tướng của bên đi không được để quân đối phương ăn ngay trong nước tiếp. Những nước để Tướng không an toàn là không hợp lệ.

Ký hiệu các vị trí trên bàn cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Để ký hiệu vị trí trên bàn cờ, người ta đánh số từ 1 đến 9 cho đường dọc, và đặt tên cho đường ngang gọi là các tuyến cho hai bên người chơi,

tốt

Đường dọc[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí của đường dọc được ký hiệu bằng các chữ số Ả rập hoặc chữ số Trung Quốc từ 1 đến 9 từ phải qua trái.

Đường ngang[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí đường ngang được ký hiệu bằng tên các tuyến mỗi bên gồm có 5 tuyến từ tuyến hà đến tuyến đáy.

Cách ghi nước đi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các thế cờ, để ghi lại vị trí và sự dịch chuyển quân cờ, người ta thường ghi lại các nước đi như sau:

  • Dấu chấm (.) là tấn
  • Dấu gạch ngang (–) là bình
  • Dấu gạch chéo (/) là thoái

Các quân cờ được viết tắt như sau:

  • Tướng là Tg
  • Sĩ là S
  • Tượng là T
  • Xe là X
  • Pháo là P
  • Mã là M
  • Tốt (Binh) là B

Hệ thống 1: The Chess of China của Dennis A. Leventhal[sửa | sửa mã nguồn]

Các đường ngang của bàn cờ được đánh số từ 1 đến 10 từ gần nhất đến xa nhất, theo sau là một chữ số 1 đến 9 cho các đường dọc từ phải sang trái cho mỗi bên. Mỗi nước được ghi theo thứ tự: số thứ tự nước đi, tên quân cờ, vị trí đường ngang cũ, vị trí đường dọc cũ, vị trí đường ngang mới, vị trí đường dọc mới.

Ví dụ, nước đầu, Đỏ đi Pháo từ (3; 2) đến (3; 5), bên Đen Mã từ (1; 8) đến (3; 7) thì ghi:

  1. P(32)–35 M(18)–37

Nước thứ hai, Đỏ đưa Pháo từ (3; 8) đến (2; 8), Đen đưa Tốt từ (4; 7) đến (5; 7)

  1. P(38)–28 B(47)–57

Hệ thống 2: A Manual of Chinese Chess của Charles Fred Wilkes[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi nước được ghi theo thứ tự: số thứ tự nước đi, tên quân cờ, vị trí và sự dịch chuyển quân cờ. Ví dụ, nước đầu, Đỏ đi Pháo 2 bình 5, bên Đen mã 8 tấn 7 thì ghi:

  1. P2–5 M8.7

Nước thứ hai, Đỏ đưa Pháo ở cột 8 lùi 1 bước, Đen đưa Tốt cột 7 lên một bước.

  1. P8/1 B7.1

Nếu Pháo (hay Mã, Xe) nằm trên một đường thì ghi Pt là Pháo trước, Ps là Pháo sau.

Trong trường hợp cả năm quân Tốt nằm trên cùng một cột thì ký hiệu:

  • Tốt trước (Bt)
  • Tốt trước giữa (Btg)
  • Tốt giữa (Bg)
  • Tốt sau giữa (Bsg)
  • Tốt sau (Bs)

Hệ thống 3: Trước năm 1955 và các giải đấu dành cho các đấu thủ không phải là gốc Hoa và gốc Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ký hiệu của một quân cờ được lấy là chữ cái đầu của tên các quân cờ, riêng quân Tốt thì không lấy chữ cái nào cả.

Quy tắc thống nhất đối với tất cả các nước:

  • đặt tên các cột từ a đến i từ bên tay trái sang bên phải theo phía người cầm quân Trắng,
  • đánh số các hàng từ 1 đến 10 (từ phía quân Trắng sang quân Đen).

Tên một ô là sự kết hợp tên một cột với số của một hàng.

Mỗi nước được ghi theo thứ tự: tên quân cờ, ô xuất phát, ô đến.

Ví dụ, nước đầu, Đỏ đi Pháo từ h3 đến e3, bên Đen Mã từ h9 đến g8 thì ghi:

  1. Ph3–e3 Mh9–g8 hay Phe3 Mg8

Ví dụ về trường hợp chiếu hết chỉ sau 4 nước:

  1. Pbe3 Phe8
  2. Ph6? Pb4?
  3. Pxe7+? Pexe4??
  4. Phe6#

Nước ăn quân thường được ký hiệu bằng dấu nhân (x). Nước chiếu Tướng có ký hiệu là dấu cộng (+), nước lưỡng chiếu (hai quân cùng chiếu Tướng) có ký hiệu là hai dấu cộng (++) và chiếu hết có ký hiệu là dấu thăng (#).

Các giai đoạn của một ván cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Người ta thường chia ván cờ ra làm ba giai đoạn: khai cuộc, trung cuộctàn cuộc.

Khai cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Thường khai cuộc được tính trong khoảng 5-12 nước đầu tiên. Các nghiên cứu mới cho biết khai cuộc đóng góp rất quan trọng vào khả năng thắng của một ván cờ. Khai cuộc có thể đóng góp đến 40% trong khi trung cuộc và tàn cuộc đóng góp 30% mỗi giai đoạn.

Có rất nhiều dạng khai cuộc khác nhau, nhưng nói chung, có thể chia khai cuộc thành hai loại chính: khai cuộc Pháo đầu và khai cuộc không Pháo đầu.

Khai cuộc Pháo đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của các khai cuộc được đặt tuỳ theo cách đi của bên đi sau, chỉ nêu vài loại chính:

Khai cuộc không Pháo đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trung cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Khai cuộc và tàn cuộc do có vị trí và số lượng quân cờ có thể quy chung về một số dạng chính nên người ta đã nghiên cứu và tổng kết được các dạng như trên. Còn ở trung cuộc, thế cờ lúc này theo kiểu "trăm hoa đua nở" nên chủ yếu vận dụng các chiến thuật cơ bản như:

  • Bắt đôi: cùng một lúc đuổi bắt hai quân.
  • Nội kích: đánh từ phía trong.
  • Kích thẳng vào Tướng.
  • Tả hữu giáp công: kích vào cả hai cánh cùng một lúc.
  • Chiếu tướng bắt quân.
  • Điệu hổ ly sơn: làm cho một quân hay Tướng phải rời vị trí của nó.
  • Dẫn dụ: đây là đòn thu hút quân đối phương đến vị trí dễ bị công kích hoặc bị vây hãm, sau đó kết hợp với chiến thuật bịt chắn lối đi, đường rút của đối phương.
  • Tạo ách tắc: dùng chiến thuật thí quân để gây ách tắc, hết đường cựa của đối phương.
  • Ngăn trở, chia cắt: đòn này thường dùng cách thí quân để làm sự liên lạc giữa các quân bị cắt đứt.
  • Khống chế: chiến thuật này ngằm ngăn trở tầm hoạt động và sự cơ động của đối phương.
  • Dịch chuyển: chiến thuật này chú ý đến sự linh hoạt của các quân.
  • Bao vây.
  • Trợ sức: các quân trợ sức cho nhau để cùng chiếu.
  • Vu hồi: đánh vòng từ phía sau.
  • Qua lại: chiến thuật này dùng để thủ thế hay công sát.
  • Quấy nhiễu.
  • Vây điểm diệt viện: vây chặt quân nào đó của đối phương rồi đánh quân tới cứu viện.
  • Nước đợi chờ: đi nước không có tác dụng để nhường đối phương, làm đối phương hết nước đi mà thua cờ.
  • Giam quân: khi một bên đang trong tình thế nguy hiểm, nhưng sử dụng một nước khéo léo giam quân mạnh của đối phương (có thể dùng cách thí quân), sau đó dùng các quân còn lại để gỡ bí.
  • Vừa đỡ vừa chiếu lại.
  • Vừa đỡ vừa trả đòn.

Trung tàn[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tàn là giai đoạn giữa Trung cuộc sắp chuyển sang giai đoạn Tàn cuộc, ở giai đoạn này hai bên thường bị mất một hoặc hai xe, khi hai người chơi đều đổi cả hai quân xe thì các kỳ thủ thường gọi vui là Cờ đi bộ vì khi đó ván cờ sẽ chơi theo đường dài.

Tàn cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tàn cuộc là giai đoạn tổng số quân cờ, đặc biệt là quân tấn công (Xe, Pháo, Mã, Tốt) cả hai bên còn rất ít. Tàn cuộc chia làm ba loại,

1, Cờ tàn thực dụng loại cờ tàn mà thắng thua được các chuyên gia nghiên cứu và giải thích rõ ràng,

2, Cờ tàn thực chiến loài này đa biến phức tạp và thắng thua khó có thể phân định được rõ ràng,

3, Cờ tàn nghệ thuật loài này được gọi là Cờ thế nó cũng được coi là cờ tàn nhưng được sắp xếp các quân cờ thành những dạng độc đáo và thường có tính chất nghệ thuật cao.

Sát cuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sát cuộc là một giai đoán kết thúc của ván cờ, khi người chơi sử dụng một hoặc nhiều quân để chiếu hết (chiếu bí) tướng của đối phương.

Các hình thức chơi cờ tướng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ bỏi[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ bỏi cũng là một hình thức đánh cờ, nhưng bàn cờ sẽ là một cái sân rộng có kẻ ô, các quân cờ được ghi lên các tấm biển bằng gỗ, gắn vào các cột dài chừng 1 mét, có đế, được đặt lên các vị trí trên sân. Người đánh phải tự nhấc quân cờ để đi, trước khi đi quân, phải có hiệu lệnh bằng trống bỏi. Từng đôi một vào thi đấu ở sân cờ. Thực chất đây là một bàn cờ lớn và nhiều người có thể cùng xem được.

Cờ người[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các lễ hội dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, cờ người là một trong những cuộc thi đấu thu hút được rất nhiều người đến xem và cổ vũ. Thông thường, nơi diễn ra trận cờ người là sân đình của làng. Quân cờ là những nam thanh nữ tú được làng kén chọn, vừa phải đẹp người, vừa phải đẹp nết. Tướng được phục trang như sau: đội mũ tướng, soái, mặc triều phục bá quan văn võ, chân đi hài thêu, lọng che. Sĩ đội mũ cánh chuồn có tua vàng. Mỗi người trong đội cờ cầm một chiếc trượng phía trên có gắn biểu tượng quân cờ được trạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đội nam mặc áo đỏ, đội nữ mặc áo vàng với thắt lưng theo lối xưa.

Trước khi vào vị trí của mỗi người trên sân cờ, cả đội cờ múa theo tiếng trống, đàn, phách. Sau khi quân cờ đã vào các vị trí, một hồi trống dài nổi lên, hai đấu thủ cờ mặc áo dài, khăn xếp xuất hiện để được giới thiệu danh tính, mỗi người cầm một cây cờ đuôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh. Quanh sân, hàng trong thì khán giả ngồi, hàng ngoài đứng, chăm chú thưởng thức ván cờ và bàn tán râm ran. Khi cờ đến hồi gay cấn, cả sân xôn xao, một nước xuất thần, cả sân đều ồ lên khoái trá. Nếu quân cờ nào đó đi hơi chậm là có tiếng trống bỏi lanh canh vui tai nhắc nhở "cắc...tom tom". Bên lề sân có một cái trống to thỉnh thoảng được gióng lên một hồi điểm cho những nước đi. Khi Tướng bị chiếu, tiếng trống dồn dập, đám đông lại càng đông hơn, đã náo nhiệt lại càng náo nhiệt thêm. Đặc biệt hơn trong một số lễ hội, thỉnh thoảng người ta còn đọc những lời thơ ứng khẩu bình những nước đi trong sân trên chiếc loa ở sân.

Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ vinh cuộc cờ người, có những câu sau:

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thủy không ai được biết.
.....
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

Cờ tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ tưởng là hình thức đánh cờ bằng trí tưởng tượng, không nhìn bàn cờ thật. Kiểu chơi này thường đòi hỏi người chơi phải có trình độ cao, nhớ được các nước đi, thế cờ hiện tại. Quốc tế đại sư Tưởng Xuyên của Trung Quốc hiện đang giữ kỷ lục thế giới về cờ tưởng.

Cờ một thế trận[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ một thế trận là trong ván cờ, chỉ được chơi một thế trận như: Thuận Pháo, Tiên nhân chỉ lộ, v.v..

Cờ chấp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chấp quân: Quân bị chấp sẽ được bỏ ra ngoài bàn cờ ngay từ đầu. Thường là chấp Xe, Pháo, 2 Mã và 1 Mã.
  • Chấp nước đi: Người được chấp sẽ được đi một vài nước trước, rồi mới đến lượt người chấp. Quân đi trước sẽ không được ăn quân hoặc qua sông. Thông thường chấp 1-2-3 nước đi trước, từ chuyên dùng gọi là chấp 1-2-3 tiên.

Trên thực tế có thể phối hợp cả hai loại chấp trên, như chấp Mã và đi trước 2 nước (Mã 2 tiên).

Cờ úp[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ úp là hình thức đánh cờ khi mà 15 quân mỗi bên được úp ngược và sắp xếp ngẫu nhiên trừ quân tướng. Khi sắp cờ các quân cờ của mỗi bên xáo trộn ngẫu nhiên, bị úp sau đó sắp theo thế trận cờ tướng thông thường.

Nước đi đầu tiên của quân cờ úp phải tuân theo luật đi của quân cờ tại vị trí mà nó đang chiếm giữ. VD: quân bị úp đang ở vị trí của quân tốt thì phải đi theo nước của quân tốt. Sau khi đi một quân cờ úp thì quân đó sẽ lật ngửa để xem nó là quân nào và từ đó trở đi quân đó đi theo luật của quân cờ ngửa.

Luật bổ sung:

  • Quân Sĩ không bị giới hạn trong cấm cung mà có thể đi khắp bàn cờ theo luật đi chéo của nó.
  • Quân Tượng không bị giới hạn bên phần "sân nhà" mà có thể đi sang lãnh thổ đối phương.
  • Quân Tốt (chốt) có thể xuất phát từ dưới đường biên ngang bên phần sân nhà và đi thẳng lên, đến khi qua sông thì được đi ngang.

So với cờ tướng thì cờ úp có nước đi phong phú và đa dạng hơn, vì cờ tướng úp có thêm Sĩ và Tượng chiếu bắt tướng được. Trong tình huống nguy cấp, có thể chỉ cần mở đúng quân cờ sẽ làm thay đổi cục diện ván đấu.

Cờ Tam quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Là loại cờ dành cho 3 người chơi, luật chơi và số quân của mỗi bên như nhau, không khác gì với cờ tướng bình thường. Bàn cờ thường là hình lục giác, bên nào bị mất Tướng trước thì quân bên đó sẽ được sáp nhập vào quân đã chiếm quân đó, nước bị chiếm sẽ bị người chơi của nước chiếm điều khiển tùy ý (tức là một người chơi sẽ có 2 tướng, 4 xe,...). Sau khi có 1 nước chiếm được một nước rồi thì quân bên kia sẽ chơi thế trận 1 chọi 2, bên quân chiếm được hai nước nếu bị chiếm một nước thì vẫn có thể sử dụng nước mình đã chiếm mà chơi tiếp.

Cờ thế[sửa | sửa mã nguồn]

Chơi cờ thế là hình thức chơi cờ mà bàn cờ lúc ban đầu đã có sẵn các thế cờ, quân cờ đang ở các vị trí như trong một ván cờ dang dở, mức độ thế cờ từ dễ đến khó và người chơi phải thắng hoặc hòa sau một số nước đi được yêu cầu từ trước. Cờ thế hay được thấy ở các lễ hội dân gian.

Cờ tướng Mãn Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ tướng bảy người chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Thành ngữ trong cờ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Chơi cờ tướng tại một công viên ở Trung Quốc
Một bàn cờ đá trong sân chơi Trung Quốc
  • Cờ tàn, Pháo hoàn.
  • Khuyết Sĩ kỵ song Xe.
  • Khuyết Tượng kỵ Pháo.
  • Nhất Sĩ chòi góc, cóc sợ Mã công.
  • Mã nhập cung Tướng khốn cùng.
  • Nhất Xe sát vạn.
  • Cờ bí dí Tốt.
  • Được thế bỏ Xe cũng tốt, mất tiên khí tử toi công.
  • Nhất tốt độ hà, bán xa chi lực.
  • Pháo đầu Xuất tướng Xe đâm thọc.
  • Pháo đầu, Mã đội, Tốt lên hà.
  • Mất Xe không bằng què Tượng.
  • Quan kỳ bất ngữ. Hạ thủ bất hoàn.
  • Khuyết Sĩ kỵ Tốt đâm thọc.

Các câu đối và thơ về cờ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Trải Hạ Thu Đông gặp tiết Xuân về càng phấn chấn
So Cầm Thi Họa thêm bàn Cờ nữa mới thanh cao.
Tiểu liệt, Đại liệt giao tranh kịch liệt
Bình xa, Hoành xa chiến lược cao xa.
...Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tấn công
Lạc nước hai Xe đành bỏ phí
Gặp thời một Tốt cũng thành công
Vốn trước hai bên ngang thế lực
Mà sau thắng lợi một bên giành
Tấn công phòng thủ không sơ hở
Đại tướng anh hùng mới xứng danh
(Trích bài "Học đánh cờ" trong tập
"Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh)
Thắt lưng hoa lý mắt câu huyền
Sĩ Tượng gươm trần gác mỗi bên
Em làm bà Tướng lòng anh đó
Anh nguyện xin làm phận Tốt đen.
(Bài "Hội cờ người" của N.V.C)
Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên
(Thơ Hồ Xuân Hương)
Quan kỳ bất ngữ chân quân tử
Hạ thủ vô hồi đích trượng phu

(Xem cờ không nói mới thật quân tử Nhấc tay không hoãn mới đúng trượng phu)

Đừng quen pháo mạnh vọt ngang cung, 

Mệnh tướng truyền ra sĩ vẫy vùng. 

Voi ngự thân chinh mang mở nước, 

Binh triều ngự giá giục sang sông. 

Xe liên vạn sát kinh tài cả, 

Mã nhựt song trì mặc sức tung. 

Sau trước trong tay rành rỏi nước, 

Cờ cao Hán Tổ dễ đua cùng.

(Vịnh bàn cờ thắng - Trần Cao Vân)

Kỷ lục cờ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chơi cờ tưởng: Ngày 27 tháng 1 năm 2013 Quốc tế Đại sư Trung Quốc Tưởng Xuyên đã thi đấu cờ tưởng với 22 kỳ thủ có đẳng cấp. Kết quả, sau gần 8 giờ đồng hồ (từ 8h30 phút đến 16h12 phút) anh đã thắng 16 và hoà 6, không thua ván nào.[cần dẫn nguồn]
  • Chơi cờ đồng loạt: Ngày 30 tháng 5 năm 1996, Từ Thiên Hồng, danh thủ cờ tướng Trung Quốc, một mình đấu cùng lúc với 100 đối thủ. Cuộc đấu cờ dài 9 giờ 28 phút với kết quả: ông thắng 83 ván, hoà 16 ván và thua 1 ván.

Các giai thoại về cờ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại cờ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh thủ cờ tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]