Hồ Xuân Hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồ Xuân Hương
胡春香
Chân dung hư cấu về nữ sĩ Hồ Xuân Hương trên bìa sách Giai nhân dị mặc của học giả Nguyễn Hữu Tiến, 1916.
Sinh Giả thiết 1772
Hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An, xứ Bắc Hà
Mất Giả thiết 1822
Hà Nội, nội trấn Bắc Thành
Công việc Hoa nương, thi sĩ
Quốc gia Personal Flag of Emperor Minh Mang.svg An Nam
Dân tộc Việt
Giai đoạn sáng tác Cổ điển
Thể loại Hán Nôm
Vợ/chồng Nguyễn Bình Kình
Phạm Viết Ngạn

Hồ Xuân Hương (chữ Hán:胡春香, 1772 - 1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi[1]. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng hậu thế có thi sĩ Xuân Diệu đã mạo muội tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm[2]. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình, có nhiều người cho rằng đặc sắc của thơ bà là "thanh thanh tục tục"[3].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc (佳人遺墨) của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916[4]. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772, theo học giả John Balaban thì bà cất tiếng khóc chào đời ở phường Khán Xuân[5] (nay thuộc địa phận Bách Thảo viên Hà Nội). Cứ theo Giai nhân dị mặc[6], Hồ Xuân Hương là ái nữ của Sinh đồ Hồ Phi Diễn[7][8] (胡丕演, 1703 - 1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại[9], thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh[8] (胡士名, 1706 - 1783) cũng người Quỳnh Đôi, Hồ Sĩ Danh là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống (胡士棟, 1739 - 1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ tên Hà Thị[5] (何氏, ? - 1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa Phi mai xuân sắc nhất kinh thành (丕梅春色一京成) của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai (胡丕梅) là nguyên danh, Xuân Hương (春香) là biểu tựCổ Nguyệt Đường (古月堂) là bút hiệu[10].

Trong thế cuộc xoay vần đầy nhiễu nhương cuối thế kỷ XVIII, Hồ Xuân Hương vẫn được hưởng những năm tháng ấu thơ êm đềm ở một dinh thự lớn tên Cổ Nguyệt đường[10] ven hồ Tây, bấy giờ là chốn phồn hoa đô hội bậc nhất xứ Đàng Ngoài[1]. Sau khi mãn tang cha, mẹ bà tái hôn với người khác. Dù ít phải ràng buộc trong gia giáo nghiêm khắc như mọi nữ lưu cùng thời, Hồ Xuân Hương vẫn hội tụ được tư chất thông minh và hiếu học[8].

Lưu lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Xuân Hương cũng được cưới gả từ rất sớm như mọi con cái trâm anh thế phiệt bấy giờ, nhưng dẫu qua hai lần đò đều không viên mãn. Ban sơ, bà làm lẽ của một hào phú có biệt hiệu Tổng Cóc. Tuy chỉ là cai lính nhưng Tổng Cóc vốn thuộc dòng dõi văn nhân, ông rất chuộng ca ngâm và mến luôn cái tài làm thơ của người vợ lẽ. Để chiều lòng bà, Tổng Cóc đã cất một thủy tạ rất lớn cho Hồ Xuân Hương ở, vừa tránh phiền lụy với vợ cả vừa thỏa thưởng thi phú. Chung sống với Tổng Cóc được một thời gian khá lâu thì Hồ Xuân Hương dứt áo ra đi với một cái thai. Có thuyết cho rằng, bà bỏ đi sau khi Tổng Cóc đã đột ngột từ trần; nhưng cũng có thuyết cho rằng bà không chịu được điều tiếng dị nghị của vợ con Tổng Cóc và người làng; lại có thuyết nói bản tính phóng đãng khiến Hồ Xuân Hương khó ngồi yên một chỗ, bà trốn đi cùng tình quân là Phạm Viết Ngạn[11].

Vào ngày Hồ Xuân Hương trở dạ, Tổng Cóc đến đòi đón con về, nhưng người nhà họ Phạm nói lại là đứa bé đã mất khi vừa lọt lòng[11]. Trong hôn sự lần này, Hồ Xuân Hương làm lẽ của Tú tài Phạm Viết Ngạn, bấy giờ tại nhiệm tri phủ Vĩnh Tường. Nhưng duyên phận chỉ được 27 tháng thì ông phủ Vĩnh Tường tạ thế[4].

Có nhiều thuyết về quãng đời sau đó của Hồ Xuân Hương, như việc bà cưới thêm vài người chồng nữa, việc bà hỏi mượn tiền thi hữu để mở hàng bán giấy bút mực, hoặc giai thoại về các mối tình trăng hoa và văn chương, nhưng mức độ khả tín chưa được xác định rõ ràng[4]. Hồ Xuân Hương được cho là mất vào năm 1822[8].

Tình duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng Cóc vốn là biệt hiệu mà người quen biết đặt cho Chánh tổng Nguyễn Bình Kình, tự Công Hòa. Nguyên quán của ông ở làng Gáp, xã Tứ (nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Ông là cháu của quan nghè Nguyễn Quang Thành, bản thân cũng một lần đi thi Hương nhưng không đỗ đạt. Sau Tổng Cóc đăng trình, lên đến chức cai cơ nên thường được gọi là Đội Kình[12]. Kết quả của hôn sự này được cho là một đứa trẻ vắn số[11].

Còn theo Phạm gia tộc phảTriệu tông phả, ông phủ Vĩnh Tường tức là Tú tài Phạm Viết Ngạn (khi thăng chức Đồng tri phủ Phân phủ Vĩnh Tường thì cải thành Viết Lập), tên cúng cơm là Đại, tự Thành Phủ. Nguyên quán của ông ở hương Trà Lũ, xã Xuân Trung, phủ Xuân Trường, trấn Sơn Nam Hạ. Các tư liệu này cũng cho biết, Hồ Xuân Hương sinh cho ông một người con tên Phạm Viết Thiệu[13].

Ngoài ra, có nhiều giai thoại truyền khẩu về lối sống phong lưu của nữ sĩ họ Hồ, như việc bà là một hoa nương thanh sắc vẹn toàn, và những mối tình bên thơ rượu với Phạm Đình Hổ[14], Phạm Thái, Nguyễn Du[15], Phạm Quý Thích, Nguyễn Hầu, Trần Ngọc Quán[16], Trần Quang Tĩnh[17], Phan Huy Huân[18], Mai Sơn Phủ[19], Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên...

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Một ấn bản thơ Hồ Xuân Hương bằng Pháp văn của Viễn Đông Bác Cổ năm 1968.

Văn bản được nhận diện cổ nhất có chép thơ Hồ Xuân Hương là Quốc văn tùng ký[20] (國文話記) do Hải Châu Tử Nguyễn Văn San (阮文珊, 1808 - 1883) soạn năm Minh Mệnh thứ 14 (1933), nhưng chỉ vài bài. Hầu hết di tác của nữ sĩ họ Hồ được gom trong cuốn Xuân Hương thi tập[21] (春香詩集), Phúc Văn Đường tàng bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930. Trong sách có khoảng 60 bài nhưng lẫn cả thơ của nhiều tác giả khác, nay chưa truy nguyên được tất cả. Tuy nhiên, văn bản đáng quý nhất là Lưu hương ký[22] (琉香記) với bài tựa của Phan Huy Huân, được học giả Trần Thanh Mại phát kiến và công bố trên thi đàn vào năm 1964. Trước đó không lâu, năm 1962, đã có học giả Trần Văn Giáp đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) 5 thi phẩm chữ Hán được cho là của Hồ Xuân Hương. Nhưng mãi đến năm 1984, học giả Hoàng Xuân Hãn mới dịch nghĩa và đăng trên tập san Khoa Học Xã Hội (Paris), lại đặt nhan đề lần lượt là Độ hoa phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thủy vân hương[2].

Thơ Hồ Xuân Hương luôn được trình bày theo phong cách thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt, bút pháp được nhận định là điêu luyện nhưng phần chữ Nôm nhiều phần đặc sắc hơn chữ Hán[1][3][23]. Ý tưởng trong thơ cũng rất táo bạo, dù là điều cấm kị đối với lễ giáo đương thời[23]. Cho nên, Hồ Xuân Hương được xem như hiện tượng kỳ thú của dòng thi ca cổ điển Việt Nam khi tích cực đưa ra cái nhìn đối lập với truyền thống đạo đức, nhưng không vì thế mà tự trở nên suy đồi[4][24][25]. Tựu trung, các di tác phần nào cho phép hậu thế thấy thực trạng tang thương ở thời đại bà sống và cả quá trình mục rữa của nhiều lề lối cũ[4][8].

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Nét phóng túng và tiềm ẩn trong thơ cũng như hành trạng của Hồ Xuân Hương luôn gây nguồn cảm hứng vô tận cho hậu thế.

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trong học đường, hai bài Bánh trôi nướcTự tình II được đưa vào sách giáo khoa Trung học cơ sởTrung học phổ thông

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Vietnam Past and Present: the North của tác giả Andrew Forbes và David Henley, xuất bản bởi Cognoscenti Books: ISBN 9781300568070.
  2. ^ a ă "陳竹灕《胡春香漢喃詩及其女性意識研究》" (喃字詩女王), công trình nghiên cứu của Đại học Quốc gia Tôn Dật Tiên (Đài Loan).
  3. ^ a ă Phim tài liệu Nhà thơ Hồ Xuân Hương chiếu trên kênh VTC10 (2012).
  4. ^ a ă â b c Smith 2008, tr. 498
  5. ^ a ă Balaban 2000, tr. 6
  6. ^ Giai nhân di mặc (1916) của tác giả Nguyễn Hữu Tiến, xuất bản tại Hà Nội bởi Nhà xuất bản Đông Kinh ấn quán.
  7. ^ Lại có thuyết cho là Hồ Phi Huấn (胡丕訓).
  8. ^ a ă â b c Taylor 2013, tr. 406
  9. ^ Tạp chí Văn Học số 10, phát hành năm 1964
  10. ^ a ă "Đi tìm Cổ Nguyệt đường và mối tình Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du"
  11. ^ a ă â Sự thật về bài thơ "Khóc Tổng Cóc"
  12. ^ Truyện chưa biết về ông Tổng Cóc và mối tình với nữ sĩ Hồ Xuân Hương
  13. ^ Tri phủ Vĩnh Tường và nhân vật Chiêu Hổ là ai ?
  14. ^ Hình bóng Hồ Xuân Hương qua thơ Phạm Đình Hổ
  15. ^ Ngôn tinh ngữ túy (7): Ai cần chữ Hán - Nguyễn Du và một Hồ Xuân Hương 1 2 3 4
  16. ^ Hồ Xuân Hương và quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán
  17. ^ Mối tình Hồ Xuân Hương và Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh
  18. ^ Hồ Xuân Hương và Tốn Phong, người tình si
  19. ^ Mối tình Hồ Xuân Hương và Mai Sơn Phủ qua "Lưu hương ký"
  20. ^ Bài dẫn trong sách Quốc văn tùng ký của Nguyễn Văn San
  21. ^ 春香詩集
  22. ^ Thơ nôm Hồ Xuân Hương, Kiều Thu Hoạch, Nhà xuất bản Văn Học, 1 tháng 10 năm 2007.
  23. ^ a ă John Balaban (2009). "About Ho Xuan Huong", American Poetry Review, tháng Chín/Mười năm 2000, bộ 29, số 5.
  24. ^ Dutton, Werner & Whitmore 2012, tr. 305
  25. ^ Nguyen 2008, tr. 241
  26. ^ Đọc Lưu hương ký của Hồ Xuân Hương do giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm và chú thích
  27. ^ Những bức họa khỏa thân của Bùi Xuân Phái
  28. ^ Tranh sơn ta của Phùng Dzi Thuần

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]