Hồ Xuân Hương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồ Xuân Hương
Hình ảnh mang tính minh họa trên bìa sách Giai nhân dị mặc
Sinh 1772
Mất 1822
Công việc nhà thơ
Quốc gia Đại Việt, Việt Nam
Tác phẩm nổi bật "Bánh trôi nước"

Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng cuối thế kỷ 18, đầu thể kỷ 19 (1772-1822) vào cuối thời Lê. Bà lớn lên trong thời kỳ bất ổn về chính trị và xã hội - thời kỳ cuộc nổi dậy Tây Sơn và một cuộc nội chiến kéo dài ba thập kỷ dẫn tới Nguyễn Ánh đoạt được chính quyền và bắt đầu triều đại nhà Nguyễn. Bà viết thơ bằng chữ Nôm, để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm (theo Xuân Diệu). Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học cổ Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi, khó kiểm chứng; thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:

  • Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.'
  • Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704) ở làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An (*). Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó.[1]
  • Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức 1772-1822. Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến. Đồng thời, Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.
  • Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, chủ yếu là tự học (do thời bấy giờ không ủng hộ việc học của nữ). Bà nổi tiếng và có danh tiếng nhờ những bài thơ tinh tế và dí dỏm.
  • Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn và có hai đời chồng, hai lần đều làm lẽ, một vị trí mà bà không hài lòng ("như người giúp việc nhưng không được trả tiền"), cả hai đời chồng đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. Cuộc hôn nhân thứ hai của bà không kéo dài lâu khi Tổng Cóc chét chỉ sáu tháng sau khi cưới.

(Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, quan Tri phủ Vĩnh Tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển).

  • Bà đã sống phần đời còn lại của mình trong một căn nhà nhỏ cạnh Hồ Tây ở Hà Nội. Bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước, điều được minh chứng trong các tác phẩm của Bà.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bà là người phụ nữ duy nhất trong xã hội Nho giáo có các tác phẩm "đối đầu" với các chuẩn mực xã hội thời bấy giờ và sử dụng sự hài hước để bày tỏ quan niệm của bà về sự bất công, phân biệt nam nữ thời bấy giờ.
  • Bằng việc sử dụng chữ Nôm để sáng tác hầu hết các tác phẩm của mình, bà đã nâng cao vị thế của ngôn ngữ tiếng Việt. Tuy nhiên, gần đây, một số bài thơ của bà mới được tìm thấy sáng tác bằng chữ Trung Quốc cổ (chữ Hán), cho thấy bà không chỉ sáng tác băng chữ Nôm.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Kẽm Trống-danh thắng trong bài thơ cùng tên của Hồ Xuân Hương

Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.

Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long. Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh, Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san Khoa học xã hội, tại Paris vào năm 1984. Ngoài ra, Hồ xuân Hương còn viết bài "Bánh trôi nước" rất nổi tiếng.

Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là Lưu hương ký 琉香記, theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của Hồ Xuân Hương. Lưu hương ký là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà.

Tuyển tập những tác phẩm xuất sắc của nhà thơ Hồ Xuân Hương được minh họa bằng tranh của cố họa sỹ Bùi Xuân Phái: http://thohoxuanhuong.blogspot.com/

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hầu hết các thành phố của Việt Nam đều có con phố chính mang tên Bà.
  • Tác phẩm "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương được lựa chọn dạy trong môn Ngữ văn của các trường Trung học phổ thông tại Việt Nam.
  • Một số tác phẩm của Bà được dịch sang tiếng anh trong cuốn Tinh hoa mùa xuân của John Balaban (Copper Canyon Press, 2000, ISBN 1 55.659 148 9).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhưng theo một tài liệu mới được công bố (trên tạp chí Văn học số 10-1964) của nhà nghiên cứu văn học cố giáo sư Trần Thanh Mai, thì Hồ Xuân Hương có cùng quê quán, nhưng là con ông Hồ Sĩ Danh (1706-1783), em cùng cha với Hồ Sĩ Ðống (1738-1786).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]