Quận 3

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Quận 3
Quận
Hồ Con Rùa.JPG
Hành chính
VùngĐông Nam Bộ
Thành phốThành phố Hồ Chí Minh
Trụ sở UBND99 Trần Quốc Thảo, phường Võ Thị Sáu
Phân chia hành chính12 phường
Thành lập27/5/1959
Đại biểu quốc hộiNgô Tuấn Nghĩa
Lâm Đình Thắng
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDVõ Khắc Thái
Bí thư Quận ủyNguyễn Hồ Hải[1]
Địa lý
Tọa độ: 10°46′48″B 106°40′46″Đ / 10,78°B 106,67944°Đ / 10.78000; 106.67944Tọa độ: 10°46′48″B 106°40′46″Đ / 10,78°B 106,67944°Đ / 10.78000; 106.67944
Diện tích4,92 km²[2]
Bản đồ Quận 3
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng190.375 người[3]
Mật độ38.694 người/km²
Khác
Mã hành chính770[4]
Biển số xe59-F1-F2
Websitewww.quan3.hochiminhcity.gov.vn

Quận 3 là một quận nội thành nằm ở khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Quận 3 thuộc khu vực Sài GònBến Nghé trước đây, được Pháp thành lập từ năm 1920 và đến năm 1956 thì trở thành một phần Đô thành Sài Gòn của Việt Nam Cộng hòa

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở UBND cũ, nay là Nhà Thiếu nhi quận

Quận 3 nằm ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, có vị trí địa lý:

Quận có diện tích 4,92 km², dân số năm 2019 là 190.375 người[3], mật độ dân số đạt 38.694 người/km².

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ, ngày 12 tháng 4 năm 1861, chính quyền Pháp thành lập thành phố Sài Gòn, trên địa bàn một số thôn của hai tổng: Bình Trị Thượng và Bình Trị Trung thuộc huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Địa giới hành chính lúc đầu của thành phố Sài Gòn chỉ gồm một phần của hai quận: Quận 1 và Quận 3 hiện nay. Tháng 1 năm 1877, Tổng thống Pháp công nhận thành phố Sài Gòn là thành phố loại I, đứng đầu là viên Đốc lý do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm.

Đến tháng 9 năm 1889, thành phố Sài Gòn được chia thành hai quận cảnh sát (arrondissement policier): Quận 1 và Quận 2, đứng đầu mỗi quận cảnh sát là vị Quận trưởng cảnh sát (Commissaire). Tháng 12 năm 1920, lập thêm Quận 3.

Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là Khu (một số tài liệu gọi là "Địa phương") Sài Gòn - Chợ Lớn (Région Saigon - Cholon ou Région de Saigon - Cholon). Quận 3 thuộc Khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Ngày 30 tháng 6 năm 1951, Thủ tướng chính quyền Quốc gia Việt Nam ký sắc lệnh số 311-cab/SG đổi tên Khu Sài Gòn - Chợ Lớn thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Lúc này, Quận 3 thuộc Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn.

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sắc lệnh số 143/NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm, Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn đổi tên thành Đô thành Sài Gòn. Khi đó, quận 3 lại thuộc Đô thành Sài Gòn.

Ngày 27 tháng 3 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 110-NV về việc phân chia 6 quận đang có thành 8 quận mới: Nhứt, Nhì, 3, Tư, 5, 6, 7 và 8 (trừ 3 quận: Nhứt, Nhì, 3 giữ nguyên, các quận còn lại đều đổi tên và thay đổi địa giới hành chính). Lúc này, quận 3 trùng với địa giới quận 3 cũ, có 5 phường: Bàn Cờ, Chí Hòa, Đài Chiến Sĩ, Trương Minh Giảng, Yên Đỗ.

Năm 1962, quận 3 giải thể phường Đài Chiến Sĩ; lập mới 6 phường: Cộng Hòa, Cư xá Đô Thành, Hiền Vương, Lê Văn Duyệt, Phan Đình PhùngPhan Thanh Giản. Như thế lúc này quận có 10 phường.

Năm 1969, tách 2 phường Chí Hòa và Phan Thanh Giản để lập mới quận 10, như thế quận 3 còn 8 phường.

Năm 1974, lập thêm phường Trần Quang Diệu tại quận 3. Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, quận 3 gồm 9 phường: Cộng Hòa, Cư xá Đô Thành, Bàn Cờ, Hiền Vương, Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, Trần Quang Diệu, Trương Minh Giảng, Yên Đỗ.

Từ năm 1975 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Đô thành Sài Gòn và các vùng lân cận vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày 3 tháng 5 năm 1975, thành phố Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Lúc này, quận 3 thuộc Thành phố Sài Gòn - Gia Định cho đến tháng 7 năm 1976.

Ngày 20 tháng 5 năm 1976, tổ chức hành chính thành phố Sài Gòn - Gia Định được sắp xếp lần 2 (theo quyết định số 301/UB ngày 20 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban nhân dân Cách mạng thành phố Sài Gòn - Gia Định). Theo đó, vẫn giữ nguyên quận 3 cũ có từ trước đó. Lúc này, các phường cũ đều giải thể, lập các phường mới có diện tích, dân số nhỏ hơn và mang tên số. Quận 3 có 25 phường, đánh số từ 1 đến 25.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 1 chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 3 trở thành quận trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 9 năm 1981, giải thể 3 phường: 2, 4 và 6, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 3 còn 22.

Ngày 26 tháng 8 năm 1982, theo Quyết định số 147-HĐBT[5] của Hội đồng Bộ trưởng, quận 3 giải thể phường 16 và phường 18, địa bàn các phường giải thể nhập vào các phường kế cận. Số phường trực thuộc quận 3 còn 20:

  1. Giải thể Phường 16 để sáp nhập vào Phường 15 và Phường 17.
  2. Giải thể Phường 18 để sáp nhập vào Phường 21.

Ngày 17 tháng 9 năm 1988, ngoài phường 1 và phường 3 không thay đổi, quận 3 giải thể 18 phường còn lại, thay thế bằng 12 phường mang tên số mới: 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 và 14.

Ngày 9 tháng 12 năm 2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1111/NQ-UBTVQH14 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021)[6]. Theo đó, sáp nhập Phường 6, Phường 7 và Phường 8 thành phường Võ Thị Sáu.

Quận 3 có 12 phường như hiện nay.

Thông tin thêm về các phường[sửa | sửa mã nguồn]

Ngã 6 Cộng Hòa
  • Phường Cộng Hòa cũ: phường 1 và một phần phường 2 hiện nay
  • Phường Phan Đình Phùng cũ: phường 5 và một phần phường 2 hiện nay
  • Phường Bàn Cờ cũ: phường 3 hiện nay
  • Phường Cư Xá Đô Thành cũ: phường 4 hiện nay
  • Phường Đài Chiến Sĩ (Hiền Vương) cũ: một phần phường Võ Thị Sáu hiện nay
  • Phường Yên Đỗ cũ: phường 9 và một phần phường Võ Thị Sáu hiện nay
  • Phường Lê Văn Duyệt cũ: các phường 10 và 11 hiện nay
  • Phường Trương Minh Giảng cũ: các phường 12 và 13 hiện nay
  • Phường Trần Quang Diệu cũ: phường 14 hiện nay.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí quận 3 trong nội thành
TP. Hồ Chí Minh

Quận 3 có 12 phường: 1, 2, 3, 4, 5, 9, 10, 11, 12, 13, 14, Võ Thị Sáu.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 3 cũng là nơi có cơ sở của một số đại học lớn:

Các trường THPT được thành lập từ thời Pháp thuộc:

Đầu cầu Công Lý
trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Văn hóa - du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 3 là nơi tập trung các biệt thự thời Pháp thuộc và là quận có mật độ cây xanh cao. Ga Sài Gòn, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Xá Lợi cũng nằm tại quận 3.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 3 là 1 trong các khu vực trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung nhiều địa điểm du lịch và vui chơi nổi tiếng. Với hệ thống đường song song được quy hoạch hợp lý, mặc dù đa số các trục đường chính của quận 3 là đường 1 chiều, khách du lịch vẫn có thể dễ dàng khám phá khu vực này khi di chuyển từ các quận lân cận như Quận 1, Quận Bình Thạnh, Quận 10.

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hồ Con Rùa, Số 01 Vòng xoay Công Trường Quốc Tế
  • Cơ sở Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ, 51/40/14 Cao Thắng, Phường 3.

Bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thờ Tân Định, 289 Hai Bà Trưng, Phường Võ Thị Sáu.
  • Nhà thờ dòng Chúa cứu thế Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng, Phường 9.

Đền chùa[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vui chơi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh, 169 Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Quận 3 có những con đường lớn như: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lý Chính Thắng, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thị Minh Khai, Bà Huyện Thanh Quan, Lê Văn Sỹ, Hai Bà Trưng, Điện Biên Phủ...

Đặc biệt, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa còn được xem là con đường chính vì nó nối sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với dinh Độc Lập - một dinh lớn và được xem là một nét đặc trưng của thành phố Hồ Chí Minh.

Quận 3, quận 1quận 5 là 3 quận còn mang những nét đặc trưng nhất của trung tâm Sài Gòn xưa.

Đường phố[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đường của Quận 3 trước và sau năm 1975.

Đường Cư Xá Đô Thành nay là đường Nguyễn Hiền.

Đường Lê Văn Duyệt nay là đường Cách Mạng Tháng 8.

Đường Phan Thanh Giản nay là đường Điện Biên Phủ.

Đường Trương Minh Giảng nay là hai đường Trần Quốc Thảo và Lê Văn Sỹ (được gọi tên Lê Văn Sỹ từ ngay sau 1975).

Đường Yên Đổ nay là đường Lý Chính Thắng.

Đường Công Lý nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (được gọi tên Nam Kỳ Khởi Nghĩa từ ngay sau 1975).

Đường Phan Đình Phùng nay là đường Nguyễn Đình Chiểu.

Đường Đốc Phủ Thạnh nay là đường Nguyễn Sơn Hà.

Đường Trương Minh Ký nay là đường Nguyễn Thị Diệu.

Đường Hồng Thập Tự nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai (được gọi tên Nguyễn Thị Minh Khai từ ngay sau 1975).

Đường Duy Tân nay là đường Phạm Ngọc Thạch.

Đường Lê Văn Thạnh nay là đường Sư Thiện Chiếu.

Đường Nguyễn Đình Chiểu nay là đường Trần Quốc Toản.

Đường Đoàn Thị Điểm nay là đường Trương Định.

Đường Trần Tấn Phát nay là đường Trương Quyền.

Đường Hiền Vương nay là đường Võ Thị Sáu.

Đường Trần Quý Cáp nay là đường Võ Văn Tần.

Đường Nhất Linh và Hoàng Đạo (Nguyễn Thông nối dài) nay là đường Trần Văn Đang.

Đường Trần Văn Đang nay là đường Đỗ Thị Lời.

Tổng lãnh sự quán các nước tại Quận 3[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Địa chỉ
 Nhật Bản 261, Điện Biên Phủ
 Thái Lan 77, Trần Quốc Thảo
 Trung Quốc 175, Hai Bà Trưng
 Nga 40, Bà Huyện Thanh Quan
 Romania 214, Võ Thị Sáu, Phường Võ Thị Sáu
 Síp 149B, Trương Định, Phường 9
 Palau 149, Võ Văn Tần, Phường Võ Thị Sáu
 Nam Phi 80, Võ Văn Tần, Phường Võ Thị Sáu
 Bồ Đào Nha 151, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ông Lê Trương Hải Hiếu trở thành chủ tịch quận trẻ nhất Thành phố Hồ Chí Minh”. Báo điện tử VTC News. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  2. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2017 phân theo quận/huyện, Theo Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh.
  3. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. “Dân số Việt Nam đến ngày 01 tháng 4 năm 2019”. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2020.
  4. ^ Tổng cục Thống kê
  5. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-147-HDBT-phan-vach-dia-gioi-phuong-thuoc-thanh-pho-Ho-Chi-Minh-vb43954t17.aspx
  6. ^ “Nghị quyết số 1111/NQ-UBTVQH14 năm 2020 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thành lập thành phố Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh”.