Quận (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Quận là một loại đơn vị hành chính cấp huyện ở Việt Nam.

Theo phân cấp hành chính hiện nay, quận chỉ có ở các thành phố trực thuộc trung ương. Tập hợp các quận là khu vực nội thành của các thành phố này.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Tính tới thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2020, Việt Nam có 49 quận[1]. Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có nhiều quận nhất với 19 quận. Cần Thơ là thành phố có ít quận nhất với 5 quận.

Các quận lại được chia thành các phường.

Các đơn vị hành chính tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, khó có thể cho rằng một quận tương đương với một thành phố trực thuộc tỉnh (hoặc thị xã) tỉnh lỵ khi xét về mặt cảm quan, do hầu hết các thành phố trực thuộc tỉnh hiện nay đều là trung tâm hành chính của các tỉnh đó, trong khi một quận không phải là trung tâm hành chính của một thành phố trực thuộc trung ương. Trung tâm hành chính (nơi đặt trụ sở các cơ quan chính quyền) của thành phố trực thuộc trung ương được đặt tại một quận nào đó trong số các quận.

Quận là đơn vị hành chính của thành phố trực thuộc trung ương và phường là đơn vị hành chính của quận (Điều 118 Hiến pháp năm 1992). Phường là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị (Quyết định 94-HĐBT ngày 26/9/1981). Như vậy quận là vùng nội thành của thành phố trực thuộc trung ương.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện"[2] thì quận thuộc thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính cấp huyện loại I. Các quận thuộc các thành phố trực thuộc trung ương khác được phân loại bằng cách tính điểm dựa theo các tiêu chí:

  • Dân số
  • Diện tích tự nhiên
  • Các yếu tố đặc thù.

Quận thuộc thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có dân số và mật độ dân số cao, tính chất quản lý nhà nước về đô thị phức tạp và khó khăn, đạt tỷ lệ thu chi cân đối ngân sách hàng năm cao, là đơn vị hành chính cấp huyện loại I thuộc đô thị loại đặc biệt.

Tại các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Quận được xếp vào loại đơn vị hành chính cấp huyện, có nghĩa tương đương với từ "district" trong các tài liệu tiếng Anh. Để phân biệt, các tài liệu thường dùng từ "urban district" để chỉ quận, phân biệt với từ "rural district" để chỉ huyện.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quận thời Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1975, tất cả các đơn vị hành chính cấp hai ở miền Nam Việt Nam (từ phía nam sông Bến Hải trở vào) đều được gọi là quận, không phân biệt là thành thị hay nông thôn. Dưới ngay cấp quận đều là xã (trừ Sài Gòn là đặc khu thủ đô), ví dụ xã Long Châu, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long là khu vực trung tâm của thành phố Vĩnh Long bây giờ. ===Quận của Cộng hòa xã hội chủ các đơn vị hành chính ở miền Nam (từ tỉnh Quảng Trị, trừ huyện Vĩnh Linh, xuống phía nam) được tổ chức lại, quận chỉ còn được dùng cho một số đơn vị hành chính đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh, các "quận" còn lại ở các tỉnh đều chuyển thành huyện.

Đến năm 1976, cả nước có 3 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó:

  • Thành phố Hà Nội có có 4 khu phố (tương đương với các quận ở thành phố Hồ Chí Minh): Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm.
  • Thành phố Hải Phòng có 3 khu phố: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền.
  • Thành phố Hồ Chí Minh có 12 quận: quận 1, quận 3, quận 4, quận 5, quận 6, quận 8, quận 10, quận 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình.

Ngày 3 tháng 1 năm 1981, thống nhất tên gọi cho các đơn vị hành chính trong cả nước, các đơn vị hành chính cấp huyện ở nội thành của các thành phố trực thuộc trung ương đều gọi là quận[3], các khu phố thuộc thành phố Hà Nội và thành phố Hải Phòng đều chuyển thành các quận. Thành phố Hà Nội có 4 quận: Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm và thành phố Hải Phòng có 3 quận: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền.

Từ năm 1981 đến năm 1993, cả nước có 19 quận thuộc 3 thành phố trực thuộc trung ương.

Ngày 29 tháng 8 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 100-CP thành lập quận Kiến An thuộc thành phố Hải Phòng trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Kiến An.[4]

Ngày 28 tháng 10 năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 69-CP thành lập quận Tây Hồ thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở một phần diện tích và dân số của quận Ba Đình và huyện Từ Liêm.[5]

Ngày 29 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 74-CP thành lập quận Thanh Xuân thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở một phần diện tích và dân số của quận Đống Đa và hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì; thành lập quận Cầu Giấy trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Từ Liêm.[6]

Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 3-CP thành lập một số quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, chia huyện Thủ Đức thành ba quận: quận 2, quận 9 và Thủ Đức; thành lập quận 7 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Nhà Bè; thành lập quận 12 trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Hóc Môn.[7]

Ngày 23 tháng 1 năm 1997, sau khi thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương được thành lập, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/NĐ-CP thành lập ba quận Hải Châu, Sơn Trà, Thanh Khê trên cơ sở một phần diện tích và dân số của thành phố Đà Nẵng cũ; thành lập quận Ngũ Hành Sơn trên cơ sở một phần của huyện Hòa Vang và phần còn lại của thành phố Đà Nẵng cũ; thành lập quận Liên Chiểu trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Hòa Vang.[8]

Ngày 20 tháng 12 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 106/NĐ-CP thành lập quận Hải An thuộc thành phố Hải Phòng trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện An Hải cũ và quận Ngô Quyền.[9]

Ngày 5 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 130/NĐ-CP thành lập quận Bình Tân thuộc thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Bình Chánh; thành lập quận Tân Phú trên cơ sở một phần diện tích và dân số của quận Tân Bình.[10]

Ngày 6 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 132/NĐ-CP thành lập quận Long Biên thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Gia Lâm; thành lập quận Hoàng Mai trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Thanh Trì và quận Hai Bà Trưng.[11]

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, sau khi thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương được thành lập, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/NĐ-CP thành lập hai quận Ninh Kiều và Bình Thủy trên cơ sở một phần diện tích và dân số của thành phố Cần Thơ cũ; thành lập quận Cái Răng trên cơ sở một phần diện tích và dân số của thành phố Cần Thơ cũ và một phần của hai huyện Châu Thành, Châu Thành A được điều chỉnh vào thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương; thành lập quận Ô Môn trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Ô Môn cũ.[12]

Ngày 5 tháng 8 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 102/NĐ-CP thành lập quận Cẩm Lệ thuộc thành phố Đà Nẵng trên cơ sở một phần diện tích và dân số của quận Hải Châu và huyện Hòa Vang.[13]

Ngày 12 tháng 9 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/NĐ-CP thành lập quận Dương Kinh thuộc thành phố Hải Phòng trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Kiến Thụy; thành lập quận Đồ Sơn trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Đồ Sơn cùng một phần diện tích và dân số của huyện Kiến Thụy.[14]

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP thành lập quận Thốt Nốt thuộc thành phố Cần Thơ trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Thốt Nốt.[15]

Ngày 8 tháng 5 năm 2009, sau khi thành phố Hà Nội được mở rộng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/NQ-CP thành lập quận Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thành phố Hà Đông vừa được sáp nhập vào thành phố Hà Nội.[16]

Ngày 27 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP chia huyện Từ Liêm thuộc thành phố Hà Nội thành hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm.[17]

Cả nước có 49 quận như hiện nay.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2020, tại Việt Nam có 49 quận.

  • Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều quận nhất với 19 quận.
  • Thành phố Cần Thơ có ít quận nhất với 5 quận.
  • Quận có diện tích lớn nhất: quận Ô Môn (Cần Thơ) với 125,41 km².
  • Quận có diện tích nhỏ nhất: quận 4 (Thành phố Hồ Chí Minh) với 4,18 km².
  • Quận có nhiều phường nhất: quận Đống Đa (Hà Nội) với 21 phường.
  • Quận có ít phường nhất: quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) với 4 phường.

Danh sách các quận[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các quận theo thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thành phố Số quận Tên các quận
Hà Nội
12
Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Long Biên, Hoàng Mai, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hà Đông, Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm
Hải Phòng
7
Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An, Kiến An, Dương Kinh, Đồ Sơn
Đà Nẵng
6
Hải Châu, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ
Thành phố Hồ Chí Minh
19
Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12, Gò Vấp, Bình Thạnh, Thủ Đức, Phú Nhuận, Bình Tân, Tân Bình, Tân Phú
Cần Thơ
5
Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt

Danh sách các quận theo tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Stt Tên quận Trực thuộc Năm thành lập Dân số
(người)
Diện tích
(km²)
Mật độ
(người/km²)
Số phường
1
Quận 1
Thành phố Hồ Chí Minh
1889

142.000

7,72
18.394
10
2
Quận 2
Thành phố Hồ Chí Minh
1997
180.000
49,79
3.615
11
3
Quận 3
Thành phố Hồ Chí Minh
1920
190.000
4,92
38.618
14
4
Quận 4
Thành phố Hồ Chí Minh
1931
175.000
4,18
41.866
15
5
Quận 5
Thành phố Hồ Chí Minh
1931
169.000
4,27
39.578
15
6
Quận 6
Thành phố Hồ Chí Minh
1931
233.000
7,14
32.633
14
7
Quận 7
Thành phố Hồ Chí Minh
1997
360.000
35,69
10.087
10
8
Quận 8
Thành phố Hồ Chí Minh
1931
424.000
19,11
22.187
16
9
Quận 9
Thành phố Hồ Chí Minh
1997
397.000
114,00
3.482
13
10
Quận 10
Thành phố Hồ Chí Minh
1969
234.000
5,72
40.909
15
11
Quận 11
Thành phố Hồ Chí Minh
1969
209.000
5,14
40.661
16
12
Quận 12
Thành phố Hồ Chí Minh
1997
620.000
52,74
11.756
11
13
Ba Đình
Hà Nội
1961
243.200
9,21
26.406
14
14
Bắc Từ Liêm
Hà Nội
2013
333.700
45,32
7.363
13
15
Bình Tân
Thành phố Hồ Chí Minh
2003
784.000
51,89
15.109
10
16
Bình Thạnh
Thành phố Hồ Chí Minh
1975
499.000
20,78
24.013
20
17
Bình Thủy
Cần Thơ
2004
140.007
70,60
1.983
8
18
Cái Răng
Cần Thơ
2004
165.057
62,53
2.640
7
19
Cầu Giấy
Hà Nội
1997
292.538
12,32
23.745
8
20
Cẩm Lệ
Đà Nẵng
2005
159.295
36,00
4.425
6
21
Dương Kinh
Hải Phòng
2007
60.319
45,85
1.316
6
22
Đống Đa
Hà Nội
1961
371.603
9,95
37.347
21
23
Đồ Sơn
Hải Phòng
2007
49.029
42,37
1.157
6
24
Gò Vấp
Thành phố Hồ Chí Minh
1976
676.000
19,43
34.792
16
25
Hai Bà Trưng
Hà Nội
1961
303.583
10,26
29.589
18
26
Hà Đông
Hà Nội
2009
388.907
49,63
7.836
17
27
Hải An
Hải Phòng
2002
132.943
98,32
1.352
8
28
Hải Châu
Đà Nẵng
1997
201.522
23,00
8.762
13
29
Hoàn Kiếm
Hà Nội
1961
153.000
5,29
28.922
18
30
Hoàng Mai
Hà Nội
2003
443.600
40,32
11.002
14
31
Hồng Bàng
Hải Phòng
1961
96.111
14,50
6.628
9
32
Kiến An
Hải Phòng
1994
118.047
29,60
3.988
10
33
Lê Chân
Hải Phòng
1961
219.762
12,00
18.313
15
34
Liên Chiểu
Đà Nẵng
1997
194.913
75,00
2.599
5
35
Long Biên
Hà Nội
2003
294.500
59,82
4.923
14
36
Nam Từ Liêm
Hà Nội
2013
240.900
32,19
7.484
10
37
Ngô Quyền
Hải Phòng
1961
165.309
11,00
15.028
12
38
Ngũ Hành Sơn
Đà Nẵng
1997
90.352
37,00
2.442
4
39
Ninh Kiều
Cần Thơ
2004
280.494
29,22
9.599
11
40
Ô Môn
Cần Thơ
2004
160.350
125,40
1.279
7
41
Phú Nhuận
Thành phố Hồ Chí Minh
1976
163.000
4,88
33.402
15
42
Sơn Trà
Đà Nẵng
1997
157.415
60,00
2.624
7
43
Tân Bình
Thành phố Hồ Chí Minh
1957
474.000
22,38
21.180
15
44
Tân Phú
Thành phố Hồ Chí Minh
2003
485.000
16,06
30.199
11
45
Tây Hồ
Hà Nội
1995
166.800
24,39
6.839
8
46
Thanh Khê
Đà Nẵng
1997
185.064
9,50
19.480
10
47
Thanh Xuân
Hà Nội
1996
293.525
9,09
32.291
11
48
Thốt Nốt
Cần Thơ
2009
155.360
118,00
1.316
9
49
Thủ Đức
Thành phố Hồ Chí Minh
1997
592.000
47,8
12.385
12

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]