Chèo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chèo Quan âm Thị Kính của soạn giả Vũ Khắc Khoan hiệu đính diễn tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, năm 1972

Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam với trọng tâm là vùng châu thổ sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịch của Bắc Kinh và sân khấu Nhật Bảnkịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là chèo.[1]

Nghệ thuật sân khấu chèo đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài từ thế kỉ thứ X tới nay, đã đi sâu vào đời sống xã hội Việt Nam. Chèo phản ánh đầy đủ mọi góc độ của bản sắc dân tộc Việt Nam: lạc quan, nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, bình dị, nhưng tràn đầy tự hào dân tộc, kiên cường đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Cũng chính vì nội dung tư tưởng lành mạnh đó mà trong chèo có đầy đủ các thể loại văn học: trữ tình, lãng mạn, anh hùng ca, sử thi, thơ ca giáo huấn,... hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, cải lương, quan họ[2]

Lịch sử hình thành chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Chèo có lịch sử hình thành từ thế kỷ X, dưới thời nhà Đinh. Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổ của sân khấu chèo, người sáng lập là bà Phạm Thị Trân,[3][4] một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh. Sau đó chèo phát triển rộng ra vùng châu thổ Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ - Tĩnh trở ra. Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn. Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sĩ quân đội Mông Cổ đã bị bắt ở Việt Nam vào thế kỷ 14. Binh sĩ này vốn là một diễn viên nên đã đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam. Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát.

Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Chèo trở về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai. Hiện nay chèo có các vở diễn kinh điển như: Oan khuất một thời, Ngọc Hân công chúa, Linh khí Hoa Lư, Nàng Sita, Tấm áo bào hoàng đế, Trang chủ Sơn Đông, Thái hậu Dương Vân Nga, Chiếc bóng oan khiên, Cô gái làng chèo, Đồng tiền vạn lịch, Chiến trường không tiếng súng,...

Chèo gắn liền với sinh hoạt đời sống, hội hè của người Việt. Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt. Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.

Đặc trưng của chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Chèo là nghệ thuật tổng hợp, muốn thấy được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc của Chèo phải trực tiếp đến với các chiếu Chèo, các vở diễn. Đặc biệt, nếu thuộc được một số làn điệu thì mới thấy được sức cuốn hút lạ kỳ của Chèo đối với người nghe. Phải hát được Chèo mới học được Chèo, từ đó mới có cơ sở sáng tạo, nâng cao và bổ sung những đặc sắc mới cho nghệ thuật Chèo. Hát Chèo là lối hát sân khấu, có thể một người, có thể nhiều người hát đồng ca. Giai điệu của các làn điệu hát Chèo rất phù hợp với giọng tự nhiên và ngôn ngữ của người Việt. Hát Chèo được hình thành bắt nguồn từ các làn điệu dân ca, lời hát Chèo lấy trong các sáng tác văn học dân gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là chủ yếu. Ngoài ra các làn điệu Chèo còn chịu những ảnh hưởng từ hát Văn, hát Xẩm, hát Ca trù, hát Xoan, hát Quan họ... Hát Chèo là loại hình nghệ thuật dân tộc có sức sống lâu bền, độc đáo và phổ biến. Nó đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ, giáo dục và phục vụ đắc lực cho đời sống tinh thần của nhân dân nên Chèo luôn được nhân dân yêu mến, gìn giữ.[5]

Về nội dung, không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo còn miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn, ca ngợi những phẩm chất cao cả của con người. Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện thường thắng cái ác, các sĩ tử tốt bụng, hiền lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng. Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui cười, những thói xấu của người đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc, Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo còn thể hiện tính nhân đạo, như trong vở Trương Viên. Chèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình thương.

Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa và rập khuôn. Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn đó. Những nhân vật phụ của chèo có thể đổi đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề v.v...Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó và trở thành một nhân vật có cá tính riêng.

"Hề chèo" là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép chế nhạo thoải mái cũng như những anh hề trong cung điện của vua chúa Châu Âu. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm:hề áo dài và hề áo ngắn

Sân khấu Chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng. Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó. Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu. Ngôn ngữ chèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ.

Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu châu Âu mà các nghệ sĩ tham gia diễn chèo thường ứng diễn. Do vậy, vở kịch kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sĩ hay đòi hỏi của khán giả. Không giống các vở opera buộc các nghệ sĩ phải thuộc lòng từng lời và hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sĩ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiện cảm xúc của nhân vật.

Chèo sử dụng tối thiểu là ba loại nhạc cụ dây là đàn nguyệt, đàn nhịđàn bầu đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trốngchũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, . Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát. Có câu nói " phi trống bất thành chèo" chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại có sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, tiêu v.v...

Các làn điệu chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200 làn điệu, chủ yếu được hình thành và bắt nguồn từ các làn điệu dân ca, ca dao, thơ giàu chất văn học đằm thắm trữ tình...[6]

Mỗi làn điệu chèo đều có những chức năng biểu cảm, diễn đạt trạng thái của nhân vật trong hoàn cảnh cụ thể của vở diễn.... Trong chèo có “Tứ quý”. Đó là những làn điệu “Đào liễu”, “Lới lơ”, “Ru kệ”, “Làn thảm”, những làn điệu này chứa trong mình đủ những yếu tố quan trọng của thanh nhạc: trữ tình, kịch tính và màu sắc. Hát được tứ quý là được làng chèo kính trọng. Thêm vào tứ quý một làn điệu “Đò đưa” nữa là được “Ngũ phúc”… Nếu ai hát thêm được những làn điệu độc đáo như “Con gà rừng”, “Nón thúng quai thao”, “Vãn”, “Sổng”… thì tâm hồn người đó sẽ rất phong phú. Vì những làn điệu trên tràn ngập những tình cảm cao quý của con người như lãng đãng, phất phơ, chòng chành, sương khói…[7]

Dưới đây là danh sách một số làn điệu chèo tiêu biểu

Bà chúa con cua, Bắt hò, Bát mật con ruồi, Binh thảo, Bình tửu, Bồ kếch bồ các, Bóng quế giãi thềm, Cách cú, Cấm giá, Chèo quế, Chi tải vu quy, Chức cẩm hồi văn, Con nhện giăng mùng, Con tò vò, Dậm chân, Đào liễu, Đào lý một cành, Đò đưa, Du xuân, Đường trường duyên phận, Đường trường phải chiều, Đường trường thu không, Đường trường tiếng đàn, Đường trường trong rừng, Dương xuân, Duyên tình, Gà rừng, Gánh nước tưới cà, Ghẹo nguyệt trêu hoa, Gió thổi màn loan, Hát cách, Hát cách gối hạc, Hát đúm, Hát sắp, Hát sắp thường, Hát tiên, Hát xuôi ngược, Hề bát môn, Hề đơm đó, Hề đom đóm, Hề mồi anh kiêu nàng thấp, Hề mồi bằng vàng, Hề mồi cơm canh, Hề mồi cu sứt, Hề mồi duyên tình, Hề mồi sư cụ, Hề tiểu, Làn say, Làn thảm, Lới lơ, Luyện năm cung, Luyện tam tầng, Nhân khang (loại hát vỡ nước), Nhịp đuổi, Nói hạnh, Nói rỉ vong, Nói sử rầu, Nón thúng quai thao, Quá giang, Quân tử vu dịch, Quạt màn, Rót chén rượu đào, Ru bống, Ru kệ, Rủ nhau lên núi thiên thai, Sa lệch bằng, Sa lệch chênh, Sắp bắt hề, Sắp cá rô, Sắp chênh, Sắp chò, Sắp cổ phong, Sắp đan lồng, Sắp đánh cờ, Sắp đặt để mà chơi, Sắp mưa ngâu, Sắp phòng loan, Sắp qua cầu, Sắp thường, Sử bằng, Sử chuyện, Sử xuân, Tháp trị vì (thiếp trả cho chàng), Thiếp bỏ cho chàng, Tiền xướng ca hậu lâm khúc, Tiểu gấm hoa chanh, Tình thư hạ vị, Tò vò, Tòng nhất nhi chung, Tú bà khấn tiên sư, Tuyết sương, Vãn cầm, Vãn canh 1, Vãn canh 2, Vãn theo, Xẩm dựng, Xẩm thày bói, Xẩm xoan, Xe tơ, Xuông hời.

Phân loại chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Chèo sân đình là loại hình chèo cổ của những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa, sân nhà các gia đình quyền quý. Sân khấu chèo sân đình thường chỉ là một chiếc chiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc công ngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế. Chèo diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉ được thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên. Đạo cụ của người diễn hay sử dụng là chiếc quạt.

Chèo cải lương là một dạng chèo cách tân do Nguyễn Đình Nghị khởi xướng và theo đuổi để thực hiện từ đầu những năm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, theo xu hướng phê phán tính ước lệ của chèo cổ. Chèo cải lương được soạn thành màn, lớp, bỏ múa và động tác cách điệu trong diễn xuất, xử lý những mô hình làn điệu chèo cổ, đưa nguyên những bài dân ca có sẵn vào bổ sung cho hát chèo. Bộ "Tám trận cười" của Nguyễn Đình Nghị gồm những vở nổi tiếng.

Chèo chái hê là loại hình dân ca hát vào rằm tháng bảy hàng năm, hoặc trong đám tang, đám giỗ của người có tuổi thọ, có nguồn gốc từ việc kết nghĩa giữa 2 làng Vân Tương (Bắc Ninh) và Tam Sơn (Đông Anh, Hà Nội), gồm có các phần:

  1. Giáo roi
  2. Nhị thập tứ hiếu
  3. Múa hát chèo thuyền cạn
  4. Múa hát kể thập ân. Kết thúc chương trình hát chèo chái hê thường là hát quan họ.
Các nghệ sĩ Nhà hát chèo Việt Nam biểu diễn ở bờ Bắc sông Bến Hải, năm 1956)

Chèo hiện đại: trong quá trình hội nhập quốc tế và bảo lưu truyền thống văn hóa dân tộc, nghệ thuật chèo của Việt Nam một mặt được quảng bá khắp năm châu, mặt khác, cũng tự hiện đại hóa để đáp ứng thị hiếu của khán - thính giả. Quá trình hiện đại hóa luôn đi đôi với quá trình bảo lưu những tinh hoa văn hóa dân tộc được bồi đắp qua nhiều thế kỷ. Hướng hiện đại hóa đầu tiên diễn ra sau năm 1954 ở miền Bắc cùng với quá trình cuộc Chiến tranh Việt Nam. Sau chiến tranh, quá trình này vẫn tiếp tục với một số vở chèo cải biên phản ánh các chủ đề hiện đại. Sau năm 1954, nhiều đoàn nghệ thuật chèo Việt Nam đã đi biểu diễn ở các nước xã hội chủ nghĩa và được công chúng hoan nghênh. Sau Chiến tranh Việt Nam, nghệ thuật chèo Việt Nam đã có mặt trong nhiều kỳ liên hoan văn hóa nghệ thuật dân gian ở nhiều nước và thu được sự mến mộ của công chúng nhiều quốc gia. Về âm nhạc, một số điệu hát chèo đã được các nghệ sĩ mạnh dạn cải biên, phối khí theo phong cách và nhạc cụ hiện đại nhưng vẫn giữ giai điệu gốc vốn có.

Các vùng chèo xưa[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ chiếng Chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếng Chèo là những phường Chèo hoạt động trong một không gian nhất định. Phong chào Chèo xưa phân thành 4 chiếng Chèo Đông, Đoài, Nam, Bắc với kinh đô Thăng Long - Hà Nội ở vị trí trung tâm. Mỗi chiếng có những “ngón nghề” riêng, kỹ thuật riêng, khó lưu truyền và phát triển ra đến bên ngoài do sự khác nhau trong phong cách nghệ thuật dựa trên cơ sở dân ca, dân vũ địa phương, chỉ người trong chiếng mới diễn được với nhau. Nhưng có những nghệ nhân chèo tài năng, nhập vào chiếng nào cũng diễn được, diễn hay, được tôn là “nghệ nhân tứ chiếng”.[8]

Trong Tứ Chiếng Chèo thì Chiếng Chèo Nam thường là mạnh hơn cả vì là quê hương của nghệ thuật Chèo và còn tập trung các địa phương có thế mạnh về Chèo như Thái Bình, Ninh BìnhNam Định. Tiếp theo là Chiếng Chèo Đông, Chiếng Chèo xứ Đoài trước đây với trung tâm là vùng Hà Tây nay đã về Hà Nội. Xứ Bắc là quê hương của quan họ nên hoạt động Chèo thường yếu nhất và Bắc Ninh cũng là tỉnh duy nhất ở khu vực châu thổ sông Hồng hiện nay không có đoàn Chèo.

Các làng chèo cổ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Niềm đam mê chèo của người dân Việt thể hiện trong các câu thơ sau:

Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe giục trống chèo vỗ bụng đi xem
Chẳng thèm ăn chả ăn nem
Thèm no cơm tẻ, thèm xem hát chèo.

Thái Bình là tỉnh thuần khiết đặc trưng nền văn minh lúa nước đồng bằng sông Hồng. Thái Bình dần hội tụ và phát triển vốn truyền thống văn hoá dân gian. Nơi đây là một trong những cái nôi của những làn điệu hát chèo. Nhắc đến chèo Thái Bình, phải kể tới chèo làng Khuốc.[9] Đây là dòng chèo đặc trưng của địa phương:

Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có xem chèo Khuốc với anh thì về

Làng Khuốc nay là xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, cùng với Hà Xá (Hưng Hà) và Sáo Diền (Vũ Thư) xưa kia là những chiếng chèo nổi tiếng của Thái Bình.[10] Những năm đầu thế kỷ thứ 19, có lúc trong làng có đến 15 gánh hát chèo. Chèo diễn quanh năm suốt tháng, không chỉ được biểu diễn ở trong làng mà gánh hát chèo còn đi đến các vùng miền khác biểu diễn phục vụ nhân dân. Trong tổng số 151 làn điệu và ca khúc chèo thì riêng các phường chèo Thái Bình đã chiếm 30 ca khúc và bốn kiểu hát nói. Trong số 155 nghệ sĩ chèo là người Thái Bình trong các đoàn chèo cả nước thì riêng làng Khuốc có 50 người.[11] Một số chiếu chèo ở Thái Bình khác như: CLB chèo Ô Mễ 2 (Vũ Thư).

Từ đầu thế kỷ 20, huyện Mỹ Lộc, Nam Định đã có 3 làng chèo khá nổi tiếng: làng Đặng, làng Quang Sán, làng Nhân Nhuế, xã Mỹ Thuận. Trong thơ của Nguyễn Bính có nhắc đến hội chèo làng Đặng

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay

Vào thời kỳ nhà Nguyễn đầu thế kỷ XX, trên đất Đông Triều, Quảng Ninh đã có những phường chèo, đội chèo hoạt động khá bài bản như: Gánh hát chèo làng An Biên (xã Thuỷ An), gánh hát chèo làng Mỹ Cụ (xã Hưng Đạo), gánh hát chèo làng Quế Lạt (xã Hoàng Quế).[12] Các làng chèo cổ nổi tiếng khác như: Làng chèo Thiết Trụ (xã Bình Minh, Hưng Yên); Làng chèo Phúc Trì (Nam Thành, Ninh Bình).

Các tổ chức chèo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Các đoàn chèo chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Các đoàn chèo, nhà hát chèo Việt Nam

Quy mô lớn nhất của các đơn vị nghệ thuật Chèo là Nhà hát Chèo rồi đến Đoàn Chèo, một số tỉnh chỉ biên chế đội hoặc tổ Chèo thuộc đoàn nghệ thuật.

Các đoàn chèo sau khi phát triển đủ điều kiện, UBND tỉnh sẽ ra quyết định thành lập nhà hát Chèo. Một nhà hát Chèo có thể có nhiều đoàn chèo như Nhà hát Chèo Hà Nội có 3 đoàn, các nhà hát khác thường có 2 đoàn.

Ở Việt Nam hiện có 18 đơn vị chèo chuyên nghiệp gồm 11 nhà hát chèo và 4 đoàn chèo và 3 đội chèo thuộc đoàn nghệ thuật có chèo gồm:

Tên Nhà hát, Đoàn chèo Năm thành lập Năm nâng cấp Trụ sở Điện thoại
Nhà hát Chèo Việt Nam 1951 1964 Hà Nội 043.8343280
Nhà hát Chèo Hà Nội 1954 2002 Hà Nội 043.8254205
Nhà hát Chèo Ninh Bình 1959 2007 Ninh Bình 0303.871902
Nhà hát Chèo Thái Bình 1959 2004 Thái Bình 0363.831453
Nhà hát Chèo Quân đội 1954 2010 Hà Nội 043.8361161
Nhà hát Chèo Nam Định 1959 2007 Nam Định 2283.646785
Nhà hát Chèo Hải Dương 1960 2007 Hải Dương 0323.852354
Nhà hát Chèo Hưng Yên 1997 2008 Hưng Yên 03213863960
Nhà hát Chèo Bắc Giang 1959 2010 Bắc Giang 02403. 854946
Nhà hát Chèo Hà Nam 1997 2010 Hà Nam 03513.863960
Nhà hát Chèo Vĩnh Phúc 2005 2013 Vĩnh Phúc
Đoàn Chèo Hải Phòng 1955 - Hải Phòng 0313.849061
Đoàn Chèo Quảng Ninh 1963 - Quảng Ninh 0333.846523
Đoàn Chèo Phú Thọ 1959 - Phú Thọ 0213.847791
Đội Chèo Yên Bái 1962 - Yên Bái 0293.852558
Đội Chèo Thái Nguyên  ?? - Thái Nguyên 0283.855631
Đoàn Chèo Thanh Hóa 1963 - Thanh Hóa 0373.856740
Đội Chèo Tuyên Quang 1962 - Tuyên Quang 0273.822689

Các làng chèo, câu lạc bộ chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Các làng chèo

Làng chèo là danh xưng để chỉ những làng còn bảo tồn và lưu giữ được nghệ thuật sân khấu chèo chuyền thống, những buổi sinh hoạt chèo trong quan hệ xã hội cộng đồng, trong lao động sản xuất và đời sống văn hoá nói chung. Các huyện có nhiều làng chèo hoặc câu lạc bộ chèo được gọi là Vùng chèo hay đất chèo, tiêu biểu hiện nay như vùng chèo Yên Khánh (Ninh Bình); vùng chèo Yên Dũng (Bắc Giang); vùng chèo Đông Triều (Quảng Ninh),... đặc biệt tỉnh Thái Bình với phong trào hát chèo quần chúng nở rộ được gọi là đất chèo Thái Bình.

Các làng chèo nổi tiếng hiện nay phải kể đến là: Làng chèo Hậu Trạch, xã Vạn Thắng, Ba Vì; Làng chèo Trung Lập, xã Tri Trung, Phú Xuyên; Làng chèo Xa Mạc, xã Liên Mạc, huyện Mê Linh (Hà Nội); Làng chèo Lũng Quý, xã Kiến Quốc, Ninh Giang; Làng chèo Hữu Chung, xã Tân Phong, Ninh Giang; Làng chèo Tuyển Cử, xã Tân Hồng, Bình Giang (Hải Dương); Làng chèo Tân Mỹ, xã Đồng Sơn, Yên Dũng; Làng chèo Đồng Quan, xã Đồng Sơn, Yên Dũng; Làng chèo Tân Ninh, xã Tư Mại, Yên Dũng; Làng chèo Hoàng Mai, Hoàng Ninh, Việt Yên; Làng chèo Thanh Trà, xã Lệ Viễn, Sơn Động (Bắc Giang); Làng chèo Ngò, xã Tiên Nội, Duy Tiên; Làng chèo Đức Lý, huyện Lý Nhân; Làng chèo Tháp, Thị trấn Kiện Khê, Thanh Liêm; Làng chèo Quỳnh Chân, xã Lam Hạ, Phủ Lý (Hà Nam); Làng chèo Khánh Lợi, huyện Yên Khánh; Làng chèo Khánh Thủy, huyện Yên Khánh; Làng chèo Khánh Cường, huyện Yên Khánh; Làng chèo Khương Dụ, xã Yên Phong, Yên Mô; Làng chèo Quảng Phúc, xã Yên Phong, Yên Mô; Làng chèo Bình Hải, xã Yên Nhân, Yên Mô (Ninh Bình); Làng chèo Ngân Cầu, thị trấn Chờ, Yên Phong; Làng chèo Thất Gian, xã Châu Phong, Quế Võ; Làng chèo Ngang Nội, xã Hiên Vân, Tiên Du; Làng chèo Nga Hoàng, xã Yên Giả, Quế Võ; Làng chèo Ngăm Lương, xã Lãng Ngâm, Thuận Thành (Bắc Ninh); Làng chèo Hoành Nhị, xã Giao Hà, Giao Thủy; Làng chèo Kiên Hành, xã Giao Hải, Giao Thủy; Làng chèo Duyên Thọ, xã Giao Nhân, Giao Thủy; làng chèo Bồng Xuyên, xã Yên Phong, Ý Yên; Làng chèo Trung Khu, xã Yên Phong, Ý Yên; Làng chèo Quang Sán, xã Mỹ Hà, Mỹ Lộc; Làng chèo Phú Văn Nam, xã Hải Châu, Hải Hậu (Nam Định); Làng chèo An Phú, xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ (Thái Bình); Làng chèo Phạm Xá, xã Đồng Than, Yên Mỹ (Hưng Yên); Làng chèo Phượng Mao, xã Hoằng Phượng, Hoằng Hóa (Thanh Hóa); Làng chèo Trung Bản, xã Liên Hoà, Yên Hưng; Làng chèo Đình Lục, xã Hồng Phong, Đông Triều (Quảng Ninh); Làng chèo Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy (Hải Phòng); Làng chèo Ngọc Lương huyện Yên Thủy (Hòa Bình);

Các câu lạc bộ Chèo

Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ chèo hiện nay là thông dụng nhất bởi nó có thể vượt ra khỏi không gian làng xã và trở thành nơi tập hợp những người yêu chèo. Các câu lạc bộ Chèo cấp tỉnh, huyện, xã thường được thành lập và sinh hoạt tại Trung tâm văn hóa các tỉnh, huyện, xã. Do các nghệ sĩ chèo về hưu và những người yêu chèo sáng lập. Hiện nay có một số câu lạc bộ chèo tiêu biểu như:

Bắc Giang: chiếu chèo Tân Ninh (xã Tư Mại, Yên Dũng) và Ðồng Nhân (xã Ðồng Phúc, Yên Dũng); CLB chèo Đồng Cống (Lục Nam); chiếu chèo làng Then (Lạng Giang); CLB chèo Hoàng Mai (Việt Yên); CLB chèo Bắc Lý (Hiệp Hòa)[13][14]

Bắc Ninh: cả tỉnh có 60 CLB chèo đang hoạt động, riêng ở huyện Quế Võ có 35 CLB chèo đang hoạt động nổi bật như: Châu Phong, Mộ Đạo, Yên Giả, Nhân Hòa, Bồng Lai…[15]

Hà Nam: các chiếu chèo Xuân Khê, chiếu chèo Hợp Lý, các chiếu chèo Lê Hồ, Đồng Hoá, chèo Liêm Sơn, Thanh Hà,...

Hà Nội có nhiều câu lạc bộ chèo nổi tiếng như: CLB chèo Cổ Phong xã Đại Đồng, Thạch Thất. Huyện Thạch Thất vẫn còn 10 xã có CLB người hát chèo như Đại Đồng, Canh Nậu, Dị Nậu, Chàng Sơn, Bình Phú, Phú Kim, Cẩm Yên. Các làng chèo Tòng Bạt, Hậu Trạch (Ba Vì), Tam Thuấn, Phụng Thượng (Phúc Thọ), Canh Nậu, Đại Đồng (Thạch Thất), Đại Thành, Phượng Cách (Quốc Oai), Tử Dương (Ứng Hòa), Phú Nhi (Sơn Tây), Tri Trung, Hoàng Long (Phú Xuyên), Nghiêm Xuyên, Vân Tảo (Thường Tín).

Hải Dương hiện có 191 đội chèo quần chúng tiêu biểu như: CLB hát chèo Hải Dương, CLB chèo Thượng Đạt, phường Tứ Minh (TP Hải Dương).[16]

Hải Phòng: CLB chèo Vĩnh Khê (An Dương), CLB chèo Ngũ Phúc (Kiến Thụy).

Hưng Yên: CLB chèo huyện Văn Lâm, CLB chèo Phạm Xá.

Hòa Bình: CLB hát chèo thị trấn Hàng Trạm, CLB chèo Ngọc Lương, CLB chèo Yên Trị đều thuộc phía nam huyện Yên Thủy.[17]

Thanh Hóa: Chiếu chèo Man Thôn (xã Thọ Vực, Triệu Sơn), CLB chèo Bút Sơn, CLB múa chèo chải xã Hoằng Quỳ, CLB hát chèo làng Nhân Trạch, xã Hoằng Đạo và CLB chèo các xã Hoằng Thái, Hoằng Hà, Hoằng Quỳ, Hoằng Minh (Hoàng Hóa).

Nam Định có gần 200 CLB chèo tiêu biểu như:[18] CLB chèo làng Đặng Xá, Làng chèo An Lại Hạ, Thụ Ích xã Yên Nhân (Ý Yên); làng chèo Phú Vân Nam ở xã Hải Châu (Hải Hậu)...

Ninh Bình: CLB chèo Tp Ninh Bình và các chiếu chèo ở Khánh Cường, Khánh Mậu, Khánh Hội, Khánh Thiện, Khánh Trung (Yên Khánh), Yên Phong, Yên Từ, Khánh Thịnh (Yên Mô); Thượng Kiệm, Như Hoà, thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn); CLB chèo Tràng An, CLB chèo thôn Xưa (xã Sơn Lai), CLB chèo xã Sơn Thành, CLB chèo thôn Ngọc Nhị (xã Gia Thủy).[19]

Nghệ An: Làng chèo Lăng Thành (xã Lăng Thành, huyện Yên Thành) được biết tới như “địa chỉ đỏ” của nghệ thuật hát chèo miền Trung.[20]

Thái Bình: CLB chèo ở các xã Quốc Tuấn; Vũ Thắng (Kiến Xương); CLB chèo ở các xã Đông La, An Châu (Đông Hưng); các CLB chèo truyền thống huyện Thái Thụy, Vũ Thư, câu lạc bộ UNESCO bảo tồn nghệ thuật sân khấu chèo Đông Hà...

Vĩnh Phúc: CLB nghệ thuật Chèo Vĩnh Phúc, CLB sân khấu Chèo Vĩnh Tường. Huyện Yên Lạc có 6 CLB chèo.

Ngoài ra có các CLB hát chèo cấp tỉnh như: Câu lạc bộ Chèo Cần Thơ; Câu lạc bộ hát Chèo Điện Biên; Câu lạc bộ chèo Tuyên Quang.

Các nghệ sĩ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Các cố nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Trùm Thịnh
  • Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh, người sáng lập nghệ thuật sân khấu chèo.
  • Trùm Thịnh (Cụ Nguyễn Văn Thịnh), (1883-1973), được truy phong Nghệ sĩ nhân dân; là người phục hồi nghệ thuật chèo và xây dựng sân khấu chèo hiện đại.
  • Cả Tam (Cụ Trịnh Thị Lan), (1888 - 1971), được truy phong Nghệ sĩ nhân dân; một trong những nghệ nhân có công khôi phục vốn chèo cổ đồng thời có đóng góp lớn cho việc hiện đại hoá chèo.
  • An Văn Mược (Cả Mược): Nghệ nhân trùm chèo nổi tiếng ở Ninh Bình, có công lưu giữ các làn điệu chèo.
  • Tào Mạt: là người có đóng góp lớn trong sự phát triển chèo hiện đại. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước kể về lịch sử Việt Nam thời nhà Lý với nhân vật chính là Lý Thánh Tông, Nguyên phi Ỷ LanLý Nhân Tông.
  • Nguyễn Thị Minh Lý, bà sinh năm 1912, là con gái Trùm Thịnh (1883 - 1973), người đã cùng với Nguyễn Đình NghịCả Tam (1888 - 1971) đóng góp lớn cho việc hiện đại hóa chèo đầu thế kỷ 20.
  • Dịu Hương (1919-?), người Bình Lục, Hà Nam, thành công với những trích đoạn Suý Vân giả dạiThị Màu lên chùa.
  • Năm Ngũ, Tư Liên, Lý Mầm, Mạnh Tuấn, những nghệ nhân nổi danh với loại vai hề chèo
    Hoa Tâm
  • Vũ Thị Tý (1936-1974); được truy phong Nghệ sĩ ưu tú năm 1995; nổi tiếng với các vai: Thị Kính trong "Quan âm Thị Kính"(tác giả: Nguyễn Văn Thịnh); Đào Huế trong "Chu Mãi Thần" (tác giả: Nguyễn Văn Mầm); Mụ quán trong "Súy Vân" (tác giả: Hàn Thế Du); Út Tịch trong "Cô Giải phóng" (tác giả: Tào Mạt); Chị Tâm trong "Phiến đá" (tác giả: Hà Văn Cầu).
  • Kiều Bạch Tuyết (1939-1975); được truy phong Nghệ sĩ ưu tú năm 1995; nổi tiếng với các vai: Thị Mầu trong "Quan âm Thị Kính" (tác giả: Nguyễn Văn Thịnh); Đào nấp trong "Chu Mãi Thần" (tác giả: Nguyễn Văn Mầm); Mụ Cám trong "Tấm Cám" (tác giả: Lưu Quang Thuận).
  • Hoa Tâm (1906 - 1986), người xã Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
  • Phạm Hồng Lô: Nghệ nhân chèo người Yên Khánh, Ninh Bình.

Các nghệ sĩ đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ nhân dân chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách 34 nghệ sĩ ưu tú lĩnh vực sân khấu chèo được công nhận là nghệ sĩ nhân dân tính đến hết năm 2015.

TT Họ tên (nghệ danh) Năm sinh Năm công nhận Nơi làm việc khi được công nhận Quê quán Chú thích
1 Trần Thị Dịu (Dịu Hương) 1919 1984 Nhà hát Chèo Việt Nam Hà Nam [21]
2 Trịnh Thị Lan (Cả Tam) 1885 1984 Nhà hát Chèo Việt Nam Hải Dương [22]
3 Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ) 1890 1984 Nhà hát Chèo Việt Nam Thái Bình [23]
4 Vũ Thị Hoa Tâm 1906 1984 Nhà hát Chèo Hà Nội Hưng Yên [24]
5 Nguyễn Văn Thịnh (Trùm Thịnh) 1883 1984 Nhà hát Chèo Việt Nam Hải Dương [25]
6 Hoàng Thị Lan (Hoàng Lan) 1932 1993 Đoàn Chèo Hải Phòng Hưng Yên [26]
7 Nguyễn Thị Lý (Minh Lý) 1908 1993 Nhà hát Chèo Việt Nam Hải Dương [27]
8 Trần Tiến 1936 1993 Nhà hát Kịch Trung ương Hà Nội [28]
9 Nguyễn Đăng Thục (Tào Mạt) 1930 1993 Tổng cục Hậu cần Hà Nội [29]
10 Trần Bảng 1926 1993 Cục Nghệ thuật Sân khấu Hải Phòng [30]
11 Doãn Hoàng Giang 1938 1997 Nhà hát Kịch Trung ương Ninh Bình [31]
12 Bùi Trọng Đang 1925 1997 Đại học Sân khấu Điện ảnh HN Nam Định [32]
13 Nguyễn Mầm (Lý Mầm) 1897 1997 Nhà hát Chèo Việt Nam Thái Bình [33]
14 Vũ Văn Nghị (Tư Liêm) 1908 1997 Nhà hát Chèo Việt Nam Hưng Yên [34]
15 Ngô Thị Quắm (Thanh Hoài) 1950 2007 Nhà hát Chèo Việt Nam Thái Bình [35]
16 Bùi Đắc Sừ 1948 2007 Nhà hát Chèo Việt Nam Bắc Giang
17 Nguyễn Thị Duyên (Lương Duyên) 1958 2012 Nhà hát Chèo Hà Nam Hà Nam [36]
18 Mai Thị Thủy (Mai Thủy) 1970 2015 Nhà hát Chèo Ninh Bình Ninh Bình
19 Vũ Tự Long 1973 2015 Nhà hát Chèo Quân đội Bắc Ninh
20 Trịnh Thị Mùi (Thúy Mùi) 1963 2015 Nhà hát Chèo Hà Nội Ninh Bình
21 Trịnh Minh Tiến 1970 2015 Nhà hát Chèo Quân đội Ninh Bình
22 Hoàng Quốc Anh 1962 2015 Nhà hát Chèo Hà Nội Thanh Hóa
23 Nguyễn Thị Tâm (Thanh Tâm) 1967 2015 Đoàn Chèo Thanh Hóa Thanh Hóa
24 Phạm Văn Mởn 1944 2015 Nhà hát Chèo Thái Bình Thái Bình
25 Nguyễn Thị Kim Liên 1940 2015 Nhà hát Chèo Nam Định Nam Định
26 Vũ Thị Minh Huệ 1965 2015 Đoàn Chèo Quảng Ninh Hải Dương
27 Nguyễn Quốc Trượng 1966 2015 Nhà hát Chèo Quân đội Bắc Ninh
28 Nguyễn Mạnh Tường 1940 2015 Nhà hát Chèo Thái Bình Thái Bình
29 Đào Văn Lê (Đào Lê) 1957 2015 Nhà hát Chèo Quân đội Bắc Giang
30 Phan Thị Lộc (Diễm Lộc) 1937 2015 Nhà hát Chèo Việt Nam Hà Nội
31 Trần Văn Thông 1957 2015 Nhà hát Chèo Bắc Giang Bắc Giang
32 Hàn Văn Hải (Hàn Hải) 1967 2015 Đoàn Chèo Thanh Hóa Ninh Bình
33 Nguyễn Thị Ngọc Viễn 1955 2015 Nhà hát Chèo Quân đội Hà Nam
34 Đinh Mạnh Phóng 1941 2015 Nhà hát Chèo Việt Nam Hưng Yên

Tính đến năm 2015, trong danh sách 34 NSND chèo trên:

Hội diễn chèo, lễ hội chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc thi chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo.

Cuộc thi nghệ thuật Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo từ năm 2013 thay thế các Hội diễn Sân khấu Chèo chuyên nghiệp tổ chức từ trước đó. Đây là hoạt động mang tính thi đua cao nhằm đánh giá, tổng kết toàn diện về khuynh hướng nghệ thuật, phương pháp sáng tạo, chất lượng tác phẩm, cách thức hoạt động, năng lực và hiệu quả trong hoạt động nghệ thuật Chèo của các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trên toàn quốc sau thời gian 3 năm; từ đó định hướng phát triển cho các đơn vị trong 3 năm tiếp theo. Đây còn là dịp tôn vinh các tập thể, các nhân nghệ sĩ có thành tích xuất sắc trong quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật, khuyến khích các đơn vị xây dựng tác phẩm đạt chất lượng cao phục vụ nhân dân. Thời gian tổ chức Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo chuyên nghiệp là 3 năm một lần.

Cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ.

Các cuộc thi này nhằm khẳng định đẳng cấp, tôn vinh tài năng của các cá nhân và nhóm nghệ sĩ, ghi nhận công sức tìm tòi, sáng tạo của nghệ sĩ trong quá trình lao động nghệ thuật. Các Cuộc thi được tổ chức theo từng chuyên ngành cho nghệ sĩ trẻ đang hoạt động ở các loại hình nghệ thuật Sân khấu và Ca, Múa, Nhạc để khuyến khích, phát hiện, bồi dưỡng tài năng. Đối với hai loại hình nghệ thuật Múa và Âm nhạc, tiêu chí Cuộc thi pháo tiếp cận quy chuẩn quốc tế và khu vực để tạo điều kiện cho thí sinh Việt Nam tham gia các Cuộc thi quốc tế tổ chức ở nước ngoài. Thời gian tổ chức Cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ tổ chức định kỳ 3 năm một lần. Đối với sân khấu chèo có các cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ sau:

  • Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên Sân khấu Tuồng, Chèo.
  • Cuộc thi tài năng trẻ đạo diễn Sân khấu toàn quốc.
  • Cuộc thi tài năng biểu diễn Múa.
  • Cuộc thi tài năng trẻ biên đạo Múa.

Liên hoan chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên hoan nghệ thuật sân khấu Chèo là hoạt động nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị nghệ thuật, các nghệ sĩ giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm trong quá trình lao động, tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật; tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sáng tạo nghệ thuật. Liên hoan chỉ tổ chức cho các loại hình nghệ thuật Chèo không tham gia các Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật Chèo.

Đơn vị tổ chức các cuộc Liên hoan nghệ thuật Chèo tại Việt Nam xây dựng chủ đề cho mỗi cuộc, gắn với việc kỷ niệm các ngày lễ trọng đại của dân tộc, các sự kiện chính trị diễn ra hàng năm. Ngoài các Liên hoan định kỳ được đặt tên trong Đề án, các Liên hoan được tổ chức nhằm phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước sẽ có Đề án riêng trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. Các cuộc Liên hoan tổ chức xen kẽ trong khoảng thời gian giữa hai kỳ tổ chức các Cuộc thi. Thời gian tổ chức Liên hoan đối với từng loại hình nghệ thuật là 3 năm một lần. Đối với Chèo có các dạng liên hoan sau:

  • Liên hoan Sân khấu thể nghiệm quốc tế.
  • Liên hoan Nghệ thuật 04 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma.
  • Liên hoan Âm nhạc truyền thống các nước ASEAN.
  • Liên hoan các Dàn nhạc sân khấu truyền thống Việt Nam.

Các lễ hội hát Chèo[sửa | sửa mã nguồn]

Các lễ hội ở vùng châu thổ sông Hồng hầu hết ngoài phần lễ, phần hội bao giờ cũng có các trò chơi dân tộc và bao giờ cũng có hát chèo. Các lễ hội tiêu biểu ở Việt Nam gắn liền với các di tích lịch sử thời Đinh, Lê, Lý, Trần đều có hát chèo làm chủ đạo. Dưới đây là một số lễ hội mà nghệ thuật hát Chèo là trọng tâm và linh hồn của lễ hội:

Tác phẩm chèo tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sức sống của chèo cổ
  2. ^ TÌM HIỂU GIÁ TRỊ CỦA CHÈO VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN NGHỆ THUẬT CHÈO Ở NAM ĐỊNH
  3. ^ Lịch sử và đặc điểm nghề hát Chèo Việt Nam
  4. ^ Xem cuốn Non Nước Việt Nam, mục Nghệ thuật sân khấu truyền thống
  5. ^ Giá trị nghệ thuật của âm nhạc trong nghệ thuật chèo truyền thống
  6. ^ Làn điệu "Lới lơ" - Giai âm rộn rã, vui tươi
  7. ^ Những làn điệu vang vọng làng Chèo
  8. ^ Ông giám đốc mê chèo
  9. ^ Chiếng chèo làng Khuốc
  10. ^ Cách tân chèo cổ: Việc không hề dễ
  11. ^ Múa rối, hát chèo - nét văn hoá truyền thống độc đáo của vùng đất Thái Bình
  12. ^ Chèo cổ ở Quảng Ninh
  13. ^ Chèo truyền thốngở Bắc Giang
  14. ^ Yên Dũng, Bắc Giang: Thức dậy các làng chèo - 11/09/2008
  15. ^ Nhận diện thực trạng để bảo tồn nghệ thuật truyền thống
  16. ^ Nở rộ các chiếu chèo làng
  17. ^ Độc đáo làn điệu chèo huyện Yên Thủy
  18. ^ Nam Định – Một trong những cái nôi của đất chèo xưa nay
  19. ^ Nho Quan phát huy vai trò của các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ
  20. ^ Về với làng chèo Lăng Thành
  21. ^ DỊU HƯƠNG (TRẦN THỊ DỊU)
  22. ^ CẢ TAM (TRỊNH THỊ LAN)
  23. ^ NGHỆ SĨ NHÂN DÂN
  24. ^ Vũ Thị Hoa Tâm (Vũ Thị Định)
  25. ^ Trùm Thịnh (Nguyễn Văn Thịnh)
  26. ^ [["http://www.mocst.gov.vn/vn/dhnn/dh-4/245/index.html HOÀNG LAN (HOÀNG THỊ LAN) "]]
  27. ^ MINH LÝ (NGUYỄN THỊ LÝ)
  28. ^ NSND Trần Tiến
  29. ^ TÀO MẠT (NGUYỄN ĐĂNG THỤC)
  30. ^ Trần Bảng
  31. ^ Doãn Hoàng Giang
  32. ^ Bùi Trọng Đang
  33. ^ Nguyễn Mầm
  34. ^ Vũ Văn Nghị
  35. ^ Thanh Hoài
  36. ^ Lương Duyên