Nhà hát Chèo Thái Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nhà hát Chèo Thái Bình là đơn vị hoạt động nghệ thuật, hoạt động chủ yếu tại tỉnh Thái Bình. Nhà hát chèo Thái Bình được thành lập từ ngày 01/8/1959. Nhà hát đóng tại đường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Đây là một đơn vị nghệ thuật thuộc chiếng Chèo xứ Nam,[1] nơi có phong trào hát chèo không chuyên phát triển bậc nhất ở Việt Nam.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu như Hà Nội (với 3 Nhà hát Chèo Việt Nam, Hà NộiQuân đội) là cái nôi của nghệ thuật chèo chuyên nghiệp, kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổ của sân khấu chèo thì Thái Bình được xem là cái nôi của phong chào hát chèo quần chúng. Trước Cách mạng tháng Tám số phường gánh hội chèo Thái Bình nở rộ khá đông đảo được hình thành, phát triển từ yêu cầu thưởng thức nghệ thuật của bà con lối xóm trong các hội làng, số phường gánh lớn mạnh thường gắn kết với số lễ hội có lịch sử lâu dài trong vùng thông qua những ước định về cúng tế lễ tiết hòa vào vô số ràng buộc của tín ngưỡng tập quán bản địa. Với ba vùng chèo: chèo Hà Xá, chèo Sáo Đền, chèo Khuốc, cùng với các nghệ nhân hát hay, diễn giỏi nổi tiếng: cụ Trùm Thịnh, cụ Lý Mầm, cụ Cả Tam, cả Ngũ, bác Năm Ngũ… chèo Thái Bình đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước.[2] Thống kê tới năm 2015 cho thấy Thái Bình cùng với Ninh Bình là 2 tỉnh sinh ra nhiều nghệ sĩ nhân dân hát chèo nhất với 5 NSND mỗi tỉnh.

Đoàn Chèo Thái Bình, thành lập theo quyết định của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Bình. Nghệ thuật biểu diễn theo dòng chèo Khuốc, với các nghệ nhân như bác Na, bác Phụ. Những vở diễn chính: "Quan Âm Thị Kính", "Suý Vân", "Cô gánh hàng hoa", "Cô gái làng chèo". Năm 1986, đoàn được cử đi biểu diễn ở Bungari, Hungari và Tiệp Khắc nhân Tuần lễ văn hoá Việt Nam tổ chức ở các nước đó. Nghệ sĩ Ưu tú tiêu biểu: Mạnh Tường, Thuý Hiền.

Các tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Quan Âm Thị Kính, Suý Vân, Lưu Bình Dương Lễ, Trinh Nguyên, Trương Viên, Thạch Sanh, Tấm Cám, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản ra quân, Nguyễn Trãi - Nhiếp Chính ỷ Lan, Cô Hàng Rau, Ni Cô Đàm Vân, Nàng Sita, Chiếc bóng oan khiên, Nữ tú tài, Chinh phụ hai chồng, Giông tố cuộc đời, Người tử tù mất tích - Cô gái làng chèo, Ngọc sáng vương triều, Nỗi đau tình mẹ, Tình oan Điện Ngọc, Tiếng hát đưa nôi, Kiếp người cần che chở, Đồng tiền vạn lịch, Nàng chúa ong, Tống Trân Cúc Hoa, Chuyện tình Nàng Kim Giao…[3]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Lao động hạng Ba (1966)
  • Huân chương Lao động hạng Nhì (1984)
  • Huân chương Lao động hạng Nhất(1992)
  • Huân chương Độc lập hạng Ba (1997)
  • Huân chương Độc lập hạng Ba (2009)

Và nhiều bằng khen của Bộ Văn hóa, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố và Bộ tư lệnh Quân khu.[4]

  • 14 nghệ sĩ được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Hai
  • 10 nghệ sĩ được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba
  • 16 nghệ sĩ được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất

Nhà hát có 30 nghệ sĩ là hội viên hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]