Xứ Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vị trí trấn Đông (màu vàng) trong tứ trấn Thăng Long

Xứ Đông hay trấn Hải Đông, trấn Hải Dương là tên một địa danh cổ, một trấn ở phía Đông của Kinh thành Thăng Long xưa. Xứ Đông có hạt nhân là trấn Hải Đông xưa, nay là thành phố Hải Dương, bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn ở Đông Bắc đồng bằng sông Hồng, gồm các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh và một phần đất thuộc 2 tỉnh Hưng YênThái Bình.

Cương vực[sửa | sửa mã nguồn]

Xứ Đông xưa gồm 4 phủ (18 huyện), cụ thể như sau:

  1. Đường Hào: nay là Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên
  2. Đường An: nay là Bình Giang tỉnh Hải Dương
  3. Cẩm Giàng (Hải Dương)
  1. Gia Phúc: nay là Gia Lộc tỉnh Hải Dương
  2. Tứ Kỳ
  3. Thanh Miện
  4. Vĩnh Lại: nay là Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và Ninh Giang (Hải Dương) và Quỳnh Phụ (Thái Bình)
  1. Thanh Hà
  2. Thanh Lâm: nay là Nam Sách (Hải Dương)
  3. Tiên Minh: nay là Tiên Lãng (Hải Phòng)
  4. Chí Linh
  1. Giáp Sơn: nội thành Hải Phòng
  2. Đông Triều: nay là Uông Bí, Đông Triều thuộc Quảng Ninh
  3. An Lão: thuộc Hải Phòng
  4. Nghi Dương: nay gồm huyện Kiến Thụy, thị xã Đồ Sơn và quận Kiến An thuộc Hải Phòng
  5. Kim Thành
  6. Thuỷ Đường: nay là Thủy Nguyên (Hải Phòng)
  7. An Dương: thuộc Hải Phòng

Vì trấn lị ở phía Đông kinh thành, nên xứ Đông cũng được gọi là trấn Đông hay trấn Chấn, phạm vi văn hóa xứ Đông nằm ở miền duyên hải của Bắc bộ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xứ Đông là một trong những khu vực có dấu ấn lịch sử của người Việt từ thời thượng cổ, đặc biệt ở các khu vực ven biển thuộc Quảng Ninhquần đảo Cát Bà ngày nay. Ở giai đoạn sơ khai trong lịch sử dựng nước của người Việt Nam sau thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc, hay còn được gọi là thời kỳ tự chủ Việt Nam, dòng họ Khúc người xứ Đông là những người có vai trò đặt nền móng cho những người đến sau như Ngô QuyềnĐinh Bộ Lĩnh. Thời kỳ Mạc đóng đô ở Thăng Long (1527-1592), phần lớn vùng xứ Đông vừa là đất căn bản (phát tích) của họ Mạc vừa đóng vai trò như kinh đô thứ hai của nhà Mạc, sau khi Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung chủ động nhường ngôi cho con trưởng là Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) rồi trở về quê hương Cổ Trai xây dựng đô thị Dương Kinh, được nhiều nhà nghiên cứu xem là đô thị vên biển thực sự đầu tiên của Việt Nam.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Gốm Chu Đậu-Mỹ Xá bắt nguồn từ thời Lê sơ nhưng phát triển cực thịnh vào thời Mạc và cũng suy tàn theo triều Mạc vào cuối thế kỷ 16.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt truyền thống, vùng trọng tâm văn hóa của xứ Đông thuộc 2 tỉnh-thành Hải DươngHải Phòng ngày nay là nơi có nhiều đóng góp cho nền văn hóa Việt Nam. Từ thời nhà Trần qua thời Lê sơ đến thời nhà Mạc, vùng này là một trong những trung tâm văn hóa lớn nhất của Đại Việt. Thời Mạc thịnh trị, kinh tế và văn hóa xứ Đông vẫn duy trì vị trí của một trong những trung tâm hàng đầu bởi là nơi phát tích của nhà Mạc và là nơi đặt kinh đô thứ hai Dương Kinh của triều đại.

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng này là nơi đặc biệt gắn bó với cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của 2 trong số những tác gia văn học thực sự lớn đầu tiên của Việt Nam, Nguyễn Trãi (1380–1442) và Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585). Đó là những người mà tác phẩm của họ có sự dồi dào về số lượng, phong phú về thể tài và có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình phát triển của nền thơ văn dân tộc, đặc biệt là trong văn học viết. Một yếu tố quan trọng nữa ở các tác gia này là phần lớn tác phẩm của họ vẫn còn được lưu truyền qua nhiều biến động của lịch sử để hậu thế ngày nay có thể nghiên cứu và đánh giá một cách tương đối toàn diện về sự nghiệp văn chương của họ.

Trong thể loại văn xuôi, Nguyễn Dữ ở thế kỷ 16 với kiệt tác Truyền kỳ mạn lục được xem là một cột mốc ghi dấu trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam. Thời kỳ cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, có Phạm Đình Hổ với Vũ trung tùy bútTang thương ngẫu lục. Thời hiện đại, vùng này là nơi khởi phát của một phong trào cách tân văn học mang tính tiên phong của Việt Nam là nhóm Tự Lực văn đoàn với những tác gia nổi bật như Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Thạch Lam... Cũng có nhiều người không sinh ra ở xứ Đông nhưng có thời gian dài sống và sáng tác tại đây như Nguyên Hồng...

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trần, Thiền phái Trúc Lâm (Trúc Lâm Yên Tử) được Trần Nhân Tông sáng lập ở Yên Tử. Nơi đây (nay thuộc Thủy Nguyên, Hải Phòng) cũng gắn bó với cuộc đời tu hành của Tuệ Trung Thượng Sỹ. Sau giai đoạn độc tôn Nho giáo của nhà Lê sơ, dưới thời Mạc Phật giáo trở lại một thời kỳ phục hưng ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội ở cả tầng lớp quý tộc và bình dân.

Vai trò của ngôi đình Việt truyền thống (với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân chúng) có thể bắt nguồn từ thời Lê sơ nhưng được định hình rõ ở thời Mạc, đặc biệt xung quanh vùng đồng bằng sông Hồng.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Tân nhạcĐỗ Nhuận, Văn Cao, Hoàng Quý (sáng lập Nhóm Đồng Vọng)... là những người sinh trưởng trên đất xứ Đông có đóng góp quan trọng cho nền âm nhạc hiện đại của Việt Nam.

Tính cách vùng miền[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung khi so sánh với 3 xứ còn lại bao quanh Thăng Long, gồm xứ Đoài, xứ Sơn Nam, và xứ Kinh Bắc, thì tính cách người xứ Đông mang đặc trưng của người miền biển rõ nét hơn cả.

Danh nhân tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là quê hương của Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tuệ Tĩnh, Phạm Ngũ Lão, Lê Hữu Trác, Phạm Sư Mạnh, Phạm Đình Hổ, Khúc Thừa Dụ, Phạm Quỳnh...

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các di tích quốc gia đặc biệt như Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều, Bãi cọc Bạch Đằng, quần đảo Cát BàQuần thể di tích danh thắng Yên Tử, xứ Đông còn có nhiều di tích gắn liền với các danh nhân như: Đền thờ Chu Văn An, Đền thờ Nguyễn Thị Duệ, Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đền Cao, văn miếu Mao Điền...

Sản vật và ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản xứ Đông nổi tiếng là: bánh đậu xanh Hải Dương, bánh gai Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà, táo Gia Lộc, chả mực Hạ Long, cà sáy Tiên Yên, rượu mơ Yên Tử, lẩu cua Hải Phòng...

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hà Nguyễn, Tiểu vùng văn hóa xứ Đông. (Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2013)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]