Tứ Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tứ Kỳ

Huyện
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhHải Dương
Huyện lỵthị trấn Tứ Kỳ
Trụ sở UBNDSố 2 đường Tây Nguyên, khu La Tỉnh Bắc, thị trấn Tứ Kỳ
Phân chia hành chính1 thị trấn, 22 xã
Chính quyền
Chủ tịch UBNDNguyễn Ngọc Sẫm
Địa lý
Tọa độ: 20°49′15″B 106°24′3″Đ / 20,82083°B 106,40083°Đ / 20.82083; 106.40083Tọa độ: 20°49′15″B 106°24′3″Đ / 20,82083°B 106,40083°Đ / 20.82083; 106.40083
Diện tích165,32 km2[1]
Dân số (2018)
Tổng cộng152.541 người
Mật độ923 người/km²
Khác
Số điện thoại097-6060-459
Website[1]

Tứ Kỳ là một huyện nằm ở phía đông nam tỉnh Hải Dương, Việt Nam.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ Kỳ 四 歧 (岐) theo nguyên nghĩa chữ Hán Việt còn được thấy trên các bia đá ở các đình chùa, Tứ Kỳ có nghĩa là "bốn đường rẽ (ngã rẽ)".

Giải thích về nguồn gốc tên "Tứ Kỳ", theo sách "Tứ Kỳ địa dư phong vật chí" của Nguyễn Năng Tấu (huấn đạo Tứ Kỳ), cuối thế kỉ XIX có chép: "Thành của huyện Tứ Kỳ vốn là đồn binh của nhà Lê ở xã Tứ Kỳ (thuộc xã Ngọc Kỳ ngày nay) gọi là đồn Tứ Kỳ. Về sau, nhân đó đặt tên huyện là huyện Tứ Kỳ."[2]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tứ Kỳ có diện tích 165,32 km2, dân số năm 2018 là 152.541 người, mật độ dân số đạt 923 người/km2.[1] Địa bàn truyền thống phía bắc tới tận Ngọc Lặc, tây tới Phong Lâm (Trắm), đuôi tới Mè.

Tứ Kỳ là một huyện ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Cũng giống như các huyện khác của tỉnh Hải Dương, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, đất đai của huyện được hình thành nhờ sự bồi đắp của hệ thống sông này. phía đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); phía tây Bắc giáp thành phố Hải Dương; phía tây giáp huyện Gia Lộc; phía tây nam giáp huyện Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương. phía đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc); phía đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình), đều là các huyện của thành phố Hải Phòng; Ngã ba sông Luộc đổ vào sông Thái Bình nằm trên ranh giới này. Hầu như xung quanh huyện được bao bọc bởi các con sông nhỏ của hệ thống sông Thái Bình. Chính giữa địa bàn huyện là con sông Tứ Kỳ, con sông này chảy qua huyện Ninh Giang theo hướng từ Tây sang Đông, đổ vào huyện Tứ Kỳ ở địa phận xã Quảng Nghiệp rồi chạy dọc theo chiều dài của huyện theo hướng Tây Bắc - Đông nam, men theo thị trấn Tứ Kỳ ở đoạn giữa Thị trấn, xã Văn Tố với xã Minh Đức, đến đoạn giữa xã Phượng Kỳ và xã Hà Thanh tách làm hai, một nhánh chảy xuống phía nam đổ vào sông Luộc nơi tiếp giáp giữa xã Tiên Động với Vĩnh Bảo ra Cầu Quý Cao sang huyện Tiên Lãng - Hải Phòng; một nhánh qua giữa xã Nguyên Giáp và Tiên Động chảy ra Cầu Xe trước khi đổ vào sông Thái Bình tại địa phận giữa xã An Thanh và Quang Trung, đây là ngã ba ranh giới giữa các huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà và Tiên Lãng.

Ảnh JPG.jpg

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tứ Kỳ có 23 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm thị trấn Tứ Kỳ (huyện lỵ) và 22 xã: An Thanh, Bình Lãng, Chí Minh, Cộng Lạc, Đại Hợp, Đại Sơn, Dân Chủ, Hà Kỳ, Hà Thanh, Hưng Đạo, Minh Đức, Ngọc Kỳ, Nguyên Giáp, Phượng Kỳ, Quang Khải, Quảng Nghiệp, Quang Phục, Quang Trung, Tái Sơn, Tân Kỳ, Tiên Động, Văn Tố.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời vua Minh Mạng, huyện Tứ Kỳ thuộc phủ Hạ Hồng (gồm 4 huyện: Gia Phúc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại), trấn Hải Dương.

Từ thời vua Minh Mạng, huyện Tứ Kỳ thuộc phủ Ninh Giang. Từ năm 1919, Pháp xóa bỏ cấp phủ (phủ chỉ còn là tên của một đơn vị hành chính cấp huyện).

Đến khoảng giữa thập niên 1930, Tứ Kỳ là một phủ cho tới Cách mạng tháng Tám 1945 với 8 tổng, chia làm 89 xã; lỵ sở ở xã Yên Phòng.[3][4]

Đình Phong Lâm - xã cực tây của Tứ Kỳ xưa

Sau cách mạng tháng Tám 1945, Tứ Kỳ là 1 huyện thuộc tỉnh Hải Dương; 9 xã thuộc phủ Tứ Kỳ được cắt sang huyện Gia Lộc, gồm: xã Phan Xá (có 3 thôn Đại Tỉnh, Long Chàng, Thụy Lương), xã Trúc Lâm (có thôn Nghĩa Hy), xã Văn Lâm (cũ là Văn Viên), xã Phong Lâm, xã Lai Cầu, xã Lũy Dương, xã Xuân Dương, xã Đông Liễu, xã Phúc Duyên, 80 xã còn lại được sáp nhập lại thành 22 xã lớn, năm 1956 lại được chia thành 26 xã và ổn định đến năm 2019; huyện lỵ vẫn đặt ở thôn An Phòng xã Quang Phục; từ 1954 được chuyển về thôn La Tỉnh[4], xã Tây Kỳ. Năm 1968 huyện Tứ Kỳ thuộc tỉnh Hải Hưng (do sáp nhập tỉnh Hải Dương với Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng).

Năm 1979, huyện Tứ Kỳ hợp nhất với huyện Gia Lộc thành huyện Tứ Lộc, trung tâm hành chính của huyện được chuyển về trung tâm huyện Gia Lộc cũ.

Ngày 27 tháng 1 năm 1996, tách huyện Tứ Lộc trở lại thành 2 huyện Tứ Kỳ và Gia Lộc. Trung tâm hành chính của huyện Tứ Kỳ lại được chuyển về thôn La Tỉnh (thuộc xã Tây Kỳ) như trước khi sáp nhập. Huyện Tứ Kỳ khi đó gồm có 26 xã: An Thanh, Bình Lãng, Cộng Lạc, Đại Đồng, Đại Hợp, Dân Chủ, Đông Kỳ, Hà Kỳ, Hà Thanh, Hưng Đạo, Kỳ Sơn, Minh Đức, Ngọc Kỳ, Ngọc Sơn, Nguyên Giáp, Phượng Kỳ, Quang Khải, Quảng Nghiệp, Quang Phục, Quang Trung, Tái Sơn, Tân Kỳ, Tây Kỳ, Tiên Động, Tứ Xuyên, Văn Tố.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tái lập tỉnh Hải Dương từ tỉnh Hải Hưng, huyện Tứ Kỳ trở lại thuộc tỉnh Hải Dương.

Ngày 16 tháng 6 năm 1997, thành lập thị trấn Tứ Kỳ, thị trấn huyện lỵ huyện Tứ Kỳ trên cơ sở trên cơ sở thôn An Nhân (xã Đông Kỳ) và thôn La Tỉnh (xã Tây Kỳ), có diện tích tự nhiên 476 ha và 6.722 nhân khẩu.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết số 788/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hải Dương. Theo đó, chuyển xã Ngọc Sơn về thành phố Hải Dương quản lý; sáp nhập hai xã Đại Đồng và Kỳ Sơn thành xã Đại Sơn; sáp nhập các xã Đông Kỳ, Tứ Xuyên và Tây Kỳ thành xã Chí Minh.

Sau khi sắp xếp và điều chỉnh địa giới, huyện Tứ Kỳ có 1 thị trấn và 22 xã như hiện nay.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường bộ: có đường TL 391, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nối thành phố Hải Dương với thị trấn Tứ Kỳ, đi Quý Cao.
  • Có quốc lộ 10 đi Hải Phòng và Thái Bình
  • Đường 17: Từ TP Hải Dương qua huyện Gia lộc, qua huyện Tứ Kỳ (Ở đoạn xã Quảng Nghiệp, xã Quang Khải) đi huyện Ninh Giang rẽ sang đường 17B lại vào đất Tứ Kỳ (ở đoạn Xã Hà Thanh, Xã Tiên Động) nhập vào đường TL 391 và đường QL10 ở đoạn Quý Cao.
  • Đường thủy: Sông Thái Bình Chảy từ phía TP Hải Dương qua giữa Tứ Kỳ (Ở đoạn Ngọc Sơn, Kỳ Sơn, Hưng Đạo, Đại Đồng, Bình Lãng, Đông Kỳ, Tây Kỳ, Tứ Xuyên, Văn Tố, An Thanh) và Thanh Hà (Ở đoạn Thanh Hải, Tân An, Thanh Thuỷ, Thanh Hồng) qua Tiên Lãng Hải Phòng ra biển. Sông Tứ Kỳ là nhánh của Sông Luộc, chảy giữa Huyện Tứ Kỳ và Huyện Ninh Giang, qua Tiên Lãng Hải Phòng ra biển.
  • Đây cũng là địa phương có đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đi qua.

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành Dền (Ngọc Lặc), trị sở của Hải Dương từ thời Hùng Vương cho đến cuối thời Trần.
  • Đình chùa An Thổ tại làng An Thổ xã Nguyên Giáp.
  • Chùa Đông Dương nằm trên địa bàn xã Minh Đức là một ngôi chùa khá cổ, chùa được xếp hạng di tích ịch sử năm 1994.
  • Chùa Phúc Diên tại xã Tân Kỳ được xếp hạng năm 1997.
  • Chùa Khánh Linh tại xã Phượng Kỳ.
  • Miếu Phạm Xá thuộc xã Ngọc Sơn có lễ hội hàng năm tổ chức vào 9 tháng giêng với nhiều trò chơi dân gian như bắt vịt, kéo co,... và các tục lệ truyền thống khác.
  • Đình Quỳnh Côi tại xã Tân Kỳ thờ thành hoàng là Cao Sơn Đại Vương, thời Hùng Duệ Vương, có công chống giặc Thục, giữ yên bờ cõi. Lễ hội hằng năm vào ngày 8 tháng 2.
  • Đình Ngọc Lâm (còn gọi là Đình Gậm) tại xã Tân Kỳ, thờ thành hoàng là Cao Sơn Đại Vương, thời Hùng Vương, như thành hoàng đình Quỳnh Gôi. Lễ hội hằng năm vào ngày 12-18 tháng một.
  • Thôn Thanh Kỳ, xã An Thanh có nghề dệt chiếu truyền thống từ lâu đời và được công nhận làng nghề vào năm 2005.
  • Đền Mắc thuộc thôn Bích Cẩm, xã Quang Phục thờ vua Quang Trung.
  • Chùa Diên Khánh (Chốn Tổ chùa Dừa) thuộc thôn Gia Xuyên (làng Dừa), xã Văn Tố.
  • Chùa Duyên Khánh xã Đông Kỳ
  • Đền Dọc tại thôn Lạc Dục xã Hưng Đạo - di tích lịch sử văn hóa
  • Chùa An Lạc (Núi) tại thôn Đông - xã Bình Lãng - nơi vẫn còn lưu giữ nhiều bi ký đặc biệt tấm bia từ thời Mạc Đoan Thái (1588).
  • Chùa Gang tại thôn Quảng Xuyên - xã Tứ Xuyên.
  • Chùa Vực (chùa Hộ Quốc) tại thôn Làng Vực - xã Tứ Xuyên.
  • Đình Thượng - xã Bình Lãng được xây dựng khoảng thế kỉ XVI, được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2016.
  • Chùa Diên Khánh ở khu La Tỉnh Bắc, Thị trấn Tứ Kỳ
  • Lăng Bà Bủi tại thôn Đông, xã Bình Lãng. Có câu "Thứ nhất cô Nghị Thanh Hoa, thứ nhì Bủi Lạng, thứ ba Thạch Sùng" - ý nói những người giàu có nhất thời xưa ở Việt Nam. Truyền thuyết kể rằng trước lăng của bà Bủi có 9 tầng, nhưng bị sụt xuống hiện tại chỉ còn 2 tầng. Bà giàu có đến mức nhìn đất sét có thể biết thành vàng.
  • Cây đa cách mạng nằm trong khuôn viên Trường Trung học cơ sở Quang Phục
  • Chùa Cống thuộc thôn Cầu Xe, xã Quang Trung, đây là một ngôi chùa cổ, rất linh thiêng nằm giữa cánh đồng giáp danh hai xã Quang Trung và Tiên Động, bị tàn phá trong chiến tranh và thời kỳ cải cách ruộng đất, gần đây mới được nhân dân trong vùng đóng góp tôn tạo lại.
  • Đền chùa làng Liêu xá thuộc xã Đại Đồng thờ Không Lộ Thiền Sư 路 禪 師.
  • Miếu Xoài ở khu La Tỉnh Nam, thị trấn Tứ Kỳ
  • Đình An Nhân ở khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, là khu di tích cấp tỉnh
  • Miếu Đống Ốc ở khu La Tỉnh Bắc, thị trấn Tứ Kỳ
  • Đình La Tỉnh ở khu La Tỉnh Bắc, huyện lị Tứ Kỳ - thị trấn Tứ Kỳ

Phương ngôn[sửa | sửa mã nguồn]

"Đầu Trắm, đuôi Mè, giữa khe Tam Lạng"

Đầu là làng Trắm: Phong Lâm, Văn Lâm, Trúc Lâm; đuôi là khu vực Mè; Tam Lạng tức là 3 làng Lạng (Bình Lãng): Làng Đông, làng Thượng, làng Khổng Lý.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă http://tnmt.haiduong.gov.vn/index.php?nre_hd=Laws&in=lawsdetail&id=1674
  2. ^ Tứ Kỳ địa dư phong vật chí, Nguyễn Năng Tấu
  3. ^ Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ, Viện Viễn đông Bác cổ, 1927
  4. ^ a ă Lịch sử Đảng bộ huyện Tứ Kỳ, tập 1, năm 2000

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát: Tứ Kỳ câu hát yêu thương; Bài ca quê hương