Mạc Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mạc Thái Tông
Hoàng đế Đại Việt (chi tiết...)
Statue of Emperor Mạc Thái Tông.jpg
Hoàng đế nhà Mạc
Trị vì 153025 tháng 1, 1540[1]
Tiền nhiệm Mạc Thái Tổ
Kế nhiệm Mạc Hiến Tông
Thông tin chung
Tên húy Mạc Đăng Doanh (莫登瀛)
Niên hiệu Đại Chính (大正)
Thụy hiệu Khâm Triết Văn hoàng đế
欽哲文皇帝
Miếu hiệu Thái Tông (太宗)
Triều đại Nhà Mạc
Thân phụ Mạc Thái Tổ
Sinh ?
Mất 25 tháng 1, 1540[1]
Nhà Mạc, Việt Nam

Mạc Thái Tông (chữ Hán: 莫太宗; ? – 25 tháng 1, 1540) là vị Hoàng đế thứ 2 của nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1530 đến 1540, tổng cộng 10 năm trị vì.

Trong thời gian trị vì, ông chỉ dùng niên hiệu Đại Chính (大正), nên còn được gọi là Đại Chính hoàng đế (大正皇帝).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Mạc Đăng Doanh (莫登瀛), là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách), tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Sử nhà MinhMinh thực lục ghi ông tên là Mạc Phương Doanh (莫方瀛)[2]. Không rõ năm sinh năm mất, nhưng ông được xác định là con trưởng của Thái Tổ Cao hoàng đế Mạc Đăng Dung, mẹ là con gái của Thông quận công Nguyễn Thì Ung (阮時雍).

Năm 1517, khi Mạc Đăng Dung nắm quyền lực trong triều, muốn câu kết bè phái, đã ra lệnh cho con trai Đăng Doanh nghênh thú con gái của Trần Chân làm vợ. Năm 1522, ông được phong làm Dục Mỹ hầu (毓美侯), chưởng Kim Quang điện (金光殿).

Năm 1527, khi Mạc Thái Tổ lên ngôi, ông được lập làm Thái tử. Ngày Tết nguyên đán năm Canh Dần (1530), Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho ông và lên làm Thái thượng hoàng, sử xưng Mạc Thái Tông.

Thái thượng hoàng lui về Tường Quang điện (祥光殿) tại quê nhà Cổ Trai, ý muốn ngao du tự tại. Tuy nhiên thực tế lúc ấy thế lực họ Lê lại đang rục rịch tự cường, Thái thượng hoàng thường xuyên giúp Thái Tông xử lý triều chính.

Đánh dẹp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1529, Thái An công nhà Hậu LêLê Ý (黎意) khởi binh ở Thanh Hoá. Mạc Thái Tổ mang quân đi đánh bị thua trận phải rút về.

Tháng 8 năm 1530, sau khi lên ngôi, Mạc Thái Tông hội binh ở huyện Hoằng Hoá đánh Lê Ý, sai Mạc Quốc Trinh lĩnh thuỷ quân đi trước. Ý đón đánh được cả hai đạo quân Mạc. Mạc Thái Tông phải án binh cố thủ. Tháng 11 năm đó, Thái Tông sai Quốc Trinh ở lại cầm quân còn mình rút về kinh thành. Lê Ý thắng liền mấy trận có ý chủ quan, bị Quốc Trinh bắt được giải về kinh giết chết.

Đầu năm 1531, Nguyễn Kim khởi binh chống Mạc ở Ai Lao, mang quan về đánh Thanh Hoá. Thái Tông sai Tây quốc công Nguyễn Kính vào đánh. Nguyễn Kim đánh thắng được Nguyễn Kính hai trận, chia quân giữ các huyện. Tháng 9, trời đổ mưa nhiều, quân Mạc thừa cơ dùng thuỷ quân tiến đánh, quân Nguyễn Kim rối loạn phải rút về Ai Lao.

Năm 1533, Nguyễn Kim lập Lê Duy Ninh lên ngôi tại đất Ai Lao, tức là vua Lê Trang Tông, tái lập nhà Lê Trung Hưng. Hiệu uý Nguyễn Nhân Liễn khởi binh ở Thuận Hoá chống Mạc. Mạc Thái Tông sai tướng đi đánh không dẹp được.

Năm 1535, ngày 16 tháng 2 cử Hoàng quận công tức Mạc Đăng Lượng cùng em Mạc tuấn Ngạn vào trấn thủ Hoan châu, phủ Anh Đô, huyện Nam đường định đô tại xứ Tiên Đô (Đền Tiên Đô) vùng Đô Đặng, Tổng Đặng sơn. (nay thuộc 3 xã Đặng sơn, Nam sơn, Bắc sơn thuộc huyện Đô lương tỉnh Nghệ an)

Năm 1537, trấn thủ Thanh Hoá là Tây An hầu Lê Phi Thừa đánh phá tam ty nhà Mạc do Trung Hậu hầu cai quản rồi chạy sang Ai Lao đầu hàng nhà Lê. Năm 1539, quân nhà Lê từ Ai Lao chia đường đánh chiếm huyện Lôi Dương (Thanh Hoá). Đất nhà Mạc bắt đầu bị chia cắt.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Thái Tông là người chú trọng việc khoa cử. Ông mở các khoa thi đều đặn 3 năm một lần và chọn được nhiều nhân tài, điển hình là Nguyễn Thiến (đỗ đầu khoa thi năm 1532) và Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ đầu năm 1535), Giáp Hải (đỗ đầu năm 1538). Đầu năm 1536, ông sai Khiêm quận công Mạc Đình Khoa tu sửa lại trường Quốc Tử Giám.

Khi mới lên ngôi, Thái Tông thấy trong nước nhiều trộm cướp bèn ra lệnh cấm dân các xứ không được mang gươm giáo, dao nhọn và binh khí đi ngoài đường. Ai trái lệnh sẽ bị trị tội. Từ đó những người buôn bán chỉ đi tay không, không phải mang khí giới tự vệ. Do đó, theo sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, "trong vài năm trộm cướp biệt tăm, súc vật nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm lại".

Liên tiếp trong mấy năm được mùa, nhân dân được no đủ, trong nước được yên ổn. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhận thời thịnh trị của Mạc Thái Tông: "Đêm ngủ không cần đóng cửa, ngoài đường không nhặt của rơi".

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Mạc Thái Tông, nhà Minh mấy lần mang quân áp sát biên giới, mượn cớ giúp nhà Lê để đánh Đại Việt. Mạc Thái Tông một mặt tăng cường phòng bị, tập luyện quân đội.

Ngày 14 tháng 5 năm 1539, ông sai Nguyễn Văn Thái và tùy tùng sang Trấn Nam Quan (鎮南關) ở Quảng Tây dâng biểu "xin hàng"[3], biện hộ rằng Lê Duy Ninh là con của Nguyễn Kim được dựng lên, không phải dòng dõi nhà Hậu Lê. Nhà Minh muốn để cho hai phe đánh nhau nên án binh không tiến nữa.

Ngày 25 tháng 1 năm 1540, Mạc Đăng Doanh qua đời, thọ khoảng 40 tuổi, thụy hiệu là Khâm Triết Văn hoàng đế (欽哲文皇帝). Thượng hoàng Mạc Đăng Dung lập con trai ông là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trần thị (陳氏), con gái Trần Chân.
  2. Vũ thị (武氏)[4]
  • Hậu duệ:
  1. Mạc Hiến Tông Mạc Phúc Hải [莫福海].
  2. Mạc Phúc Tư, được phong làm Ninh vương (寧王).
  3. Mạc Kính Điển, được phong làm Khiêm vương (謙王 ), sau trở thành phụ chính trụ cột của nhà Mạc.
  4. Mạc Lý Tường [莫理禪].
  5. Mạc Lý Hoà [莫理華].
  6. Mạc Hiệp Cung [莫協泰].
  7. Mạc Đôn Nhượng, được phong làm Ứng vương (應王 ), sau kế tục Kính Điển làm phụ chính thời Mạc Mậu Hợp.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Thái Tông không phải là vị hoàng đế nhiều võ công nhưng giỏi về văn trị. Ông không có được những chiến công đánh dẹp hiển hách như vua cha Mạc Thái Tổ nhưng đã mang lại cuộc sống no ấm, yên ổn cho nhân dân Đại Việt, nhất là vùng Bắc Bộ sau nhiều năm loạn lạc, binh lửa cuối thời Lê sơ. Do sự trỗi dậy của các lực lượng ủng hộ nhà Hậu Lê, nền thái bình mà ông gây dựng không được kéo dài. Tuy nhiên, các lực lượng chống Mạc lúc đó chưa đủ mạnh, về cơ bản Mạc Thái Tông vẫn nắm quyền cai trị toàn quốc.

Những cảnh thịnh trị thời ông cai trị - khiến các sử sách của nhà Lê đối địch sau này cũng phải ghi nhận - là rất hiếm có trong lịch sử Việt Nam, ngay cả thời được coi là "hoàng kim" của chế độ phong kiến như Lê Thánh Tông cũng không thấy chép những cảnh tương tự. Điều đó được các nhà sử học hiện đại đánh giá rất cao.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă .Âm lịch.
  2. ^ Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/2740, accessed July 13, 2016.
  3. ^ Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/2740, accessed July 13, 2016.
  4. ^ Minh sử - An Nam truyện: (Nguyễn) Kính Hữu nữ, giá Phương Doanh thứ tử Kính Điển, nhân thử dữ Phương Doanh thê Vũ thị thông, đắc chuyên binh bính.