Trần Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Nhân Tông
陳仁宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Trần Nhân Tông TLĐSXSCĐ.png
Trần Nhân Tông trong tác phẩm Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ được cho là của Trần Giám Như
Hoàng đế nhà Trần
Trị vì 1278 - 1293
Tiền nhiệm Trần Thánh Tông
Thái thượng hoàng Quang Nghiêu Thái thượng hoàng đế
Kế nhiệm Trần Anh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Khâm Từ hoàng hậu
Tuyên Từ hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Trần Khâm (陳昑)
Niên hiệu Thiệu Bảo (紹寶; 1278 - 1285)
Trùng Hưng (重興; 1285 - 1293)
Thụy hiệu Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
法天崇道應世化民隆慈顯惠聖文神武元明睿孝皇帝
Miếu hiệu Nhân Tông (仁宗)
Hoàng tộc Nhà Trần
Thân phụ Trần Thánh Tông
Thân mẫu Nguyên Thánh hoàng hậu
Sinh 7 tháng 12, 1258
Thăng Long
Mất 16 tháng 12, 1308 (50 tuổi)
am Ngọa Vân, núi Yên Tử
An táng Đức Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12, 125816 tháng 12, 1308), là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 15 năm (12781293) và làm Thái thượng hoàng 15 năm.

Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị hoàng đế nổi tiếng anh minh trong lịch sử Việt Nam, có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2lần 3. Lúc này, quân đội Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã đánh tan tác quân đội hùng mạnh của Nhà Nguyên, bảo vệ bờ cõi Đại Việt trước vó ngựa nổi tiếng vô địch của người Mông Cổ. Ngay sau khi dẹp yên quân giặc, ông cho giảm thuế, phát lương chẩn, tích cực khôi phục các công trình đã bị quân Nguyên hủy hoại, mau chóng sau đó quốc gia hồi phục, Đại Việt dần lấy lại sự hưng thịnh và phát triển cực thịnh thêm nữa.

Năm 1293, Nhân Tông thoái vị, nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (陳烇) kế vị, tức Anh Tông hoàng đế, ông lui về làm Thái thượng hoàng, chuyên tâm vào nghiên cứu Phật giáo. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nổi tiếng. Sau khi nhường ngôi, ông thường hay lấy pháp hiệu là Trúc Lâm đại sĩ (竹林大士).

Bên cạnh là một vị hoàng đế tài năng, Nhân Tông còn nổi tiếng là một nhà thơ xuất sắc của triều đại nhà Trần. Thơ ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ. Ở đấy cũng thể hiện sự hoà hợp khó chia tách giữa một ngòi bút vừa cung đình vừa giản dị, có cả những kiến thức sách vở uyên bác lẫn với sự từng trải lịch lãm.

Trần Nhân Tông đã có các tác phẩm Trần Nhân Tông thi tập, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ và bộ Trung hưng thực lục do ông sai văn thần biên soạn. Tuy nhiên, hiện chỉ còn tìm thấy 31 bài thơ, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một bài tán. Ngoài ra, trong sách Thiền tông bản hạnh còn có hai bài văn Nôm biền ngẫu ghi tên ông là tác giả.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân Tông hoàng đế tên thật là Trần Khâm (陳昑), là con trai trưởng của Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thiều, sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ, niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (tức 7 tháng 12 năm 1258).

Ngay từ khi sinh ra, ông được tả là được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, và cha mẹ ông gọi ông là Kim Tiên đồng tử (金仙童子). Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn.

Tháng 12, năm 1274, Thánh Tông hoàng đế sắc phong ông làm Hoàng thái tử; lấy con gái trưởng của Trần Hưng Đạo làm Hoàng thái tử phi (皇太子妃). Sau đó, Thánh Tông cho sung vào Đông Cung những người có học hạnh làm thầy dạy cho ông.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng Mười âm lịch năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), ông được Thánh Tông hoàng đế nhường ngôi, tự xưng là Hiếu Hoàng (孝皇). Thánh Tông được tôn Thái thượng hoàng, tôn hiệu là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái thượng hoàng đế (光尧慈孝太上皇帝), giúp Nhân Tông coi sóc chính sự.

Chiến tranh với nhà Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1258, quân Mông Cổ từng thất bại ở Đại Việt trong việc tìm cách mở một hướng từ phía Nam để đánh vào lãnh thổ Nam Tống. Năm 1279, Nam Tống hoàn toàn bị Đại Nguyên thôn tính. Người Nguyên đánh úp quân Tống tại Nhai Sơn [1], quân Tống thua, Tả thừa tướng nhà Tống là Lục Tú Phu cõng Tống Đế nhảy xuống biển chết. Hậu cung và các quan chết theo rất nhiều. Qua 7 ngày có đến hơn 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển. Xác vua Tống cũng ở trong số đó. Năm ấy nhà Tống mất.

Tháng 8 năm này, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản.

Bấy giờ nhà Nguyên sai sứ sang hạch điều này, trách điều nọ, triều đình cũng có nhiều việc bối rối. Nhưng nhờ có Thượng hoàng Thánh Tông còn coi mọi việc và các quan trong triều nhiều người có tài trí như các thân vương như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật..., bản thân Nhân Tông lại là một vị Hoàng đế thông minh và quả quyết nên mọi việc chống đối lại nhà Nguyên mới thành lập đều rất cứng rắn.

Để chuẩn bị cho chiến tranh chống quân xâm lượt, nhà Trần cho tiến hành xét duyệt sổ đinh, chuẩn bị lương thảo lực lượng. Phong cho Hưng Đạo vương Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc, sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị. Khi ấy, Chiêu Minh vương Quang Khải còn có hiềm khích với Hưng Đạo vương, tuy nhiên nhanh chóng 2 người dẹp bỏ và cùng nhau bàn bạc kế sách đánh giặc Nguyên, từ đấy tinh thần quân đội nhà Trần càng thêm vững chắc.

Các đợt tiến quân của quân Nguyên vào năm 1285 và năm 1287 bị nhanh chóng đập tan, nhiều tướng lĩnh của quân Nguyên như Ô Mã Nhi, Lý Hằng đều bị chết trận. Sau khi chiến tranh kết thúc, Nhân Tông nhanh chóng tái thiết lại đất nước đã bị tàn phá bởi đợt cướp của quân Nguyên.

Năm 1290, ngày 25 tháng 5, Thái thượng hoàng đế băng hà, thọ 49 tuổi, miếu hiệuThánh Tông (聖宗), thụy hiệuTuyên Hiếu hoàng đế (宣孝皇帝). Thánh Tông hoàng đế anh minh một đời, dẫn dắt Nhân Tông hoàng đế trong cơn chiến tranh biến động, là phụ thân và cũng là người thấy quan trọng trong cuộc đời của Nhân Tông. Việc trong nước bấy giờ đều do Nhân Tông đích thân làm chủ.

Đại Việt sau thời kỳ chiến tranh, mất mùa thất bát. Ngay năm Thánh Tông hoàng đế băng hà, trong triều lục đục chuẩn bị tang lễ thì nhân dân ngoài kinh thành lại đói to, 3 thăng gạo giá 1 quan tiền, dân nhiều người bán ruộng đất, và bán con trai con gái làm nô tỳ cho người, mỗi người giá 1 quan tiền. Ngay lập tức, Nhân Tông xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo và miễn thuế nhân đinh. Năm sau, tiếp tục chết đói, 2 năm này liên tiếp nạn đói hoành hành, Nhân Tông ban chiếu cho nô dịch, nô lệ có thể mua chuộc lại ruộng đất để tăng cường cải thiện tình hình lương thực. Tình hình dần dần cải thiện.

Năm 1293, ngày 9 tháng 3, Nhân Tông hoàng đế nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, tức Trần Anh Tông. Nhân Tông trở thành Thái thượng hoàng, lui về phủ Thiên Trường ngự tọa như thông lệ, tôn hiệu là Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế (憲堯光聖太上皇帝). Thượng hoàng giúp Anh Tông coi việc chính sự, nhiều lúc thân chinh đánh Ai Lao, vì bấy giờ bọn giặc này hay quấy nhiễu biên giới phía Tây.

Thái thượng hoàng nghiêm khắc[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ Anh Tông hoàng đế đăng cơ khi vừa 17 tuổi, có sở thích mê rượu chè, việc này khiến Nhân Tông có một đợt giận nghiêm trọng, suýt nữa phế truất ngôi vị của Anh Tông. Sử kể rằng, một hôm Anh Tông uống rượu xương bồ say khướt. Lúc đó Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường trở về kinh sư, các quan trong triều không ai biết cả.

Thượng hoàng thong thả đi thăm khắp các cung điện, từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Đến khi cung nhân dâng bữa, Thượng hoàng ngoảnh nhìn không thấy Anh Tông ở đâu, lấy làm lạ và hỏi là: "Quan gia ở đâu?". Cung nhân vào trong nội đánh thức, nhưng ngài không tỉnh. Thượng hoàng giận lắm, lập tức trở về Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngay ngày mai đều phải tới phủ Thiên Trường để điểm danh, ai trái lệnh sẽ bị xử tội.

Đến giờ Mùi thì Anh Tông mới tỉnh, cung nhân đem việc ấy tâu lên. Anh Tông bấy giờ sợ quá, đi rảo ra khỏi cửa cung không thấy ai coi giữ; qua chùa Tư Phúc, thấy học sinh Đoàn Nhữ Hài ở cửa chùa. Anh Tông bèn dẫn Nhữ Hài vào buồng ngủ và bảo: "Vừa rồi trẫm vì say rượu, có tội với Thượng hoàng, giờ trẫm định đến trước mặt ngài tạ tội, ngươi hãy thảo cho trẫm bài biểu". Nhữ Hài đứng trước mặt Anh Tông, soạn xong tờ biểu. Anh Tông bèn lấy thuyền nhẹ đi ngay, cho Nhữ Hài theo mình.

Sáng sớm hôm sau, Anh Tông tới phủ Thiên Trường, sai Nhữ Hài dâng biểu tạ tội. Thượng hoàng thấy Nhữ Hài, liền hỏi là người nào. Nội nhân trả lời là người dâng biểu của Anh Tông. Thượng hoàng không nói gì. Buổi chiều, mưa gió ập đến, Nhữ Hài vẫn cứ quỳ không nhúc nhích. Thượng hoàng hỏi: "Người ở trong sân có còn đấy không?". Nội nhân đáp rằng còn.

Thượng hoàng bèn sai nhận biểu để xem, thấy lời lẽ khẩn thiết cho gọi Anh Tông vào bảo:"Trẫm còn có con khác, cũng có thể nối ngôi được. Trẫm đang sống mà ngươi còn như thế, huống chi sau này?". Anh Tông rập đầu tạ tội, từ đấy bỏ hẳn rượu.

Anh Tông có tính hay thích vi hành, cứ đêm đến, lại lên kiệu, cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trong kinh kỳ, gà gáy mới trở về cung. Có đêm, ra đến quân phường, Anh Tông bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu. Người theo hầu thét lên: "Kiệu vua đấy". Bọn chúng nghe thế mới tan chạy cả. Một hôm, Thượng hoàng thấy đầu Anh Tông có vết thương và vặn hỏi. Sau khi biết sự thực, Thượng hoàng giận giữ hồi lâu.

Xuất gia[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông vào năm 1293, Vua Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại hành cung Vũ Lâm, Ninh Bình.[2] Đến năm 1299 Vua mới rời đến Yên Tử (Quảng Ninh), ngự tại am Ngự Dực, tu hành khổ hạnh và thành lập Thiền phái Trúc Lâm, còn gọi là Trúc Lâm Yên Tử hay Trúc Lâm Tam tổ[3]. Thượng hoàng lấy đạo hiệu là Trúc Lâm đại sĩ (竹林大士), là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này, đệ tử là Pháp Loa chính là vị Thiền sư kế vị dòng thiền. Về sau ông được gọi cung kính là Phật Hoàng (佛皇) nhờ những việc này.

Ngày 3 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (tức 16 tháng 12 năm 1308), Thượng Hoàng băng ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử, được an táng ở Đức lăng, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân. Minh Tông dâng miếu hiệuNhân Tông (仁宗), thụy hiệuPháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế (法天崇道應世化民隆慈顯惠聖文神武元明睿孝皇帝).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Nhân Tông có:

  • Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)
  • Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)
  • Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá)
  • Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)
  • Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)
  • Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược.

Các phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 25 bài thơ chép trong Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục[4].

Giới thiệu thi phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Việt Nam
Tam.jpg

Sơ khai

Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi

Thiền phái Vô Ngôn Thông

Thiền phái Thảo Đường

Thiền phái Trúc Lâm

Trần Nhân Tông còn là một nhà thơ Thiền xuất sắc trong dòng thơ thời Lý-Trần.

Xuân hiểu
Thụy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi
Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay,
Song song đôi bướm trắng,
Phất phới sấn hoa bay.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Hạnh Thiên Trường hành cung
Cảnh thanh u vật diệc thanh u
Thập nhất tiên châu thử nhất châu.
Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt,
Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu
Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu.
Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh
Kim niên du thắng tích niên du.
Dạo chơi hành cung Thiên Trường
Cảnh thanh u vật cũng thanh u
Mười mấy châu tiên ấy một châu.
Trăm tiếng đàn chim, dàn nhạc hát
Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu
Trăng vô sự chiếu người vô sự
Nước có thu lồng trời có thu.
Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng
Độ xưa so với độ nay thua.
(Bản dịch Khuyết danh)
Cư trần lạc đạo phú
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.[5]
Dịch nghĩa:
Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác
Đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa.
Cảnh thanh u vật cũng thanh u[6]

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khâm Từ hoàng hậu Trần thị (欽慈皇后陳氏; ? - 1293), húy Trinh (貞), con gái trưởng của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
  2. Tuyên Từ hoàng hậu Trần thị (宣慈皇后陳氏; ? - 1318), em gái của Khâm Từ hoàng hậu, mẹ là thị thiếp của Hưng Đạo đại vương.
  • Hậu duệ:
  1. Trần Thuyên [陳烇], Anh Tông Nhân Hiếu hoàng đế (英宗仁孝皇帝), mẹ là Khâm Từ hoàng hậu.
  2. Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn [惠武大王陳國瑱], có thể mẹ là Tuyên Từ hoàng hậu.
  3. Thượng Trân công chúa [上珍公主], lấy Văn Huệ công Trần Quang Triều, cháu nội Trần Hưng Đạo.
  4. Thiên Trân công chúa [天珍公主; ? - 1309], lấy Uy Túc công Trần Văn Bích, con Văn Túc vương Trần Đạo Tái, cháu nội của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải.
  5. Huyền Trân công chúa [玄珍公主], lấy Jaya Sinhavarman III của Chiêm Thành.
Tượng Giác Hoàng Trần Nhân Tông đặt trong tháp Huệ Quang

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt sử ký toàn thư của các sử gia thời Hậu Lê nhận định về ông:

Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân.

—Đại Việt Sử Ký Toàn Thư[7].

Đền thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài[sửa | sửa mã nguồn]

Công trình tượng đài Trần Nhân Tông được xây dựng tại khu vực An Kỳ Sinh, trên non thiêng Yên Tử, thành phố Uông Bí có kinh phí đầu tư gần 70 tỷ đồng.

Tượng đài với các phần: Đài sen và tượng được đúc bằng đồng liền khối (nguyên liệu nhập từ Australia), nặng khoảng 100 tấn, cao 9,9 m. Bệ đỡ tượng cao 2,9m; rộng 7,25m, kết cấu bằng bê tông cốt thép cường độ chịu lực cao; sân hành lễ, bậc đá, khuôn viên được lát bằng đá phiến tự nhiên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ ở phía nam huyện Tân Hội, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
  2. ^ Cung Vũ Lâm là nơi xuất gia tu Phật đầu tiên của đức Phật hoàng Trần Nhân tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Thượng hoàng đến Vũ Lâm vào chơi hang đá, cửa núi đá hẹp, thượng hoàng ngự chiếc thuyền nhỏ, Tuyên Từ thái hậu ngồi đằng đuôi thuyền" Thời gian này vào khoảng tháng 7 năm Giáp ngọ (1294). Sang năm Ất mão (1295) Đại Việt sử ký toàn thư tờ 540 lại ghi: "Mùa hạ, tháng 6, thượng hoàng về kinh sư. Đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, lại trở về vậy"
  3. ^ Vì sao vua Trần Nhân Tông về Yên Tử tu hành?. Theo Thiền sư Việt Nam của HT. Thích Thanh Từ, thì: "Năm Quý Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, Ngài sắp đặt việc xuất gia. Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi (1299), Ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, Ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Sau đó Ngài lập chùa, cất tinh xá, khai giảng để tiếp độ chúng Tăng. Học chúng đua nhau đến rất đông. Sau, Ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập giảng đường, giảng dạy mấy năm. Ngài lại vân du đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến, rồi ở đó" [1].
  4. ^ Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004, tr. 1790.
  5. ^ Họa bài Cư trần lạc đạo
  6. ^ Thơ văn Lý Trần - tập 2 - NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội - 1989. Trang 510
  7. ^ Nhân Tông hoàng đế

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]