Trần Nhân Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Nhân Tông
Hoàng đế Đại Việt (chi tiết...)
Trần Nhân Tông.jpg
Tượng thờ Trần Nhân Tông ở Huế
Hoàng đế nhà Trần
Trị vì 12781293
Tiền nhiệm Trần Thánh Tông
Thượng hoàng Trần Thánh Tông
Kế nhiệm Trần Anh Tông
Thông tin chung
Vợ
Hậu duệ
Tên húy Trần Khâm (陳昑)
Niên hiệu
  • Thiệu Bảo (1278–1285)
  • Trùng Hưng (1285–1293)
Thụy hiệu Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
法天崇道應世化民隆慈顯惠聖文神武元明睿孝皇帝
Miếu hiệu Nhân Tông
Hoàng tộc Nhà Trần
Thân phụ Trần Thánh Tông
Thân mẫu Nguyên Thánh hoàng hậu
Sinh 7 tháng 12, 1258(1258-12-07)
Thăng Long
Mất 14 hoặc 16 tháng 12, 1308 (50 tuổi)
Am Ngọa Vân, núi Yên Tử
An táng Đức Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗; 7 tháng 12 năm 125814 hoặc 16 tháng 12 năm 1308) là vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ 13, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước.[1][2] Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.[3]

Là con trai trưởng của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 – lúc ông chưa đầy 20 tuổi. Vị hoàng đế trẻ sớm phải đương đầu với hiểm họa xâm lược từ đế quốc Mông-Nguyên hùng mạnh ở phương Bắc. Do vậy, ngay sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trịxã hội của Đại Việt, đồng thời xây dựng quan hệ tích cực với nước láng giềng phía nam là Chiêm Thành. Năm 1285, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt huy động một lực lượng lớn (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư là 50 vạn người) tấn công Đại Việt.[4][5] Quân dân Đại Việt ban đầu gặp nhiều tổn thất; nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, thượng hoàng Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, người Việt đã dần dần xoay chuyền tình thế và đánh bật quân Nguyên về nước. Sau đó, 2 vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược khác của Mông–Nguyên vào năm 1287.

Sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược của người Mông, Trần Nhân Tông đã khôi phục được sự ổn định và hưng thịnh của Đại Việt, đồng thời thực thi phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Năm 1293, ông truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng.[2][6] Sau đó Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm đại sĩ (竹林大士); nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính sự, đánh dẹp quân Ai Lao xâm phạm biên giới và mở rộng bờ cõi về phương Nam bằng phương pháp ngoại giao.[7] Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập của Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.[8]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm (陳昑), sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (tức 7 tháng 12 năm 1258). Ông là con trai trưởng của Trần Thánh TôngNguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thị Thiều. Theo mô tả của Đại Việt Sử ký Toàn thư, Trần Khâm ngay từ khi sinh ra đã được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, nên vua cha và ông nội - thái thượng hoàng Trần Thái Tông đã gọi ông là Kim Tiên đồng tử (金仙童子).[1] Các chú giải của Trần Quang Chỉ trong tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ cho biết Trần Khâm đã được dạy kỹ về hệ thống tư tưởng Phật-Lão-Nho và am hiểu tường tận giáo pháp nhà Phật. Ông cũng đạt được trình độ cao về các lĩnh vực như quân sự, âm nhạc, lịch số học và thiên văn học.[5]

Năm 1274, khi Trần Khâm 16 tuổi, ông được vua Trần Thánh Tông chỉ định làm Thái tử nối ngôi.[9] Theo sách Thánh đăng ngữ lục (một tác phẩm khuyết danh về sự nghiệp tu Phật của 5 vua đầu thời Trần, được viết vào khoảng thế kỷ 14), Trần Khâm đã nhiều lần từ chối ngôi Thái tử và thuyết phục Trần Thánh Tông lập em ông lên thay, nhưng không được vua cha chấp thuận. Thậm chí có lần Trần Khâm định trốn lên núi Yên Tử ẩn tu, khiến vua Trần Thánh Tông phải sai quan quân đi tìm và thỉnh cầu ông về kinh đô.[10] Trần Khâm đành chấp nhận ngôi Thái tử, nhưng ông vẫn duy trì nếp sống thanh tịnh trên tinh thần Phật giáo; ông cũng dành nhiều thời gian đàm đạo với thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (tức Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung – anh họ của Trần Thánh Tông) và tôn xưng vị này làm thầy mình.[5][10]

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 10 âm lịch năm Mậu Dần (tức ngày 8 tháng 11 năm 1278), Trần Khâm được cha truyền ngôi, trở thành vua Trần Nhân Tông. Ông tự xưng làm Hiếu Hoàng (孝皇) và lấy niên hiệu Thiệu Bảo (紹寶) vào mùa xuân năm 1279. Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng và cùng trị vì với Nhân Tông cho đến khi mất năm 1290.[11][12] Trong suốt thời trị vị của mình, Nhân Tông đã sử dụng 2 niên hiệu là Thiệu Bảo (1279 – 1285) và Trùng Hưng (重興) (1285 – 1293).[13]

Buổi đầu trị nước[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nhân Tông lên ngôi trong bối cảnh nền độc lập của Đại Việt bị đe dọa trầm trọng. Ở phương Bắc, Nguyên-Mông đã chinh phục hầu hết Nam Tống và bắt đầu dòm ngó Đại Việt. Ngay sau khi Nhân Tông đăng quang, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt cử Thượng thư Bộ Lễ Sài Thung sang Đại Việt, lấy cớ Nhân Tông "không xin mệnh mà tự lập" (nghĩa là tự xưng làm vua mà không chịu xin phép "thiên triều" Nguyên) để ép vua Trần sang triều kiến.[1][5][14] Nhân Tông đã đối đãi tử tế với Sài Thung, nhưng kiên quyết không đi trình diện vua Nguyên. Sài Thung đành phải đi tay không về nước.[5][1][15] Sau đó, Nhân Tông sai Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế sang cống nạp nhà Nguyên. Tháng 12 năm 1279, Hốt Tất Liệt giam cầm Đình Toản ở thành Đại Đô, rồi ép Quốc Kế đi cùng một phái bộ mới của Sài Thung tới Đại Việt với mục đích tương tự lần trước.[5][16][1] Nhân Tông vẫn không nhân nhượng, mặc dù Sài Thung đã dọa nạt rằng nếu vua Trần không sang chầu, "thì hãy sửa sang thành trì của ngươi, để đợi sự phán xét".[5]

Đứng trước hiểm họa xâm lược từ Mông Cổ, Nhân Tông và Thánh Tông đã có nhiều nỗ lực nhằm phát triển kinh tế, đảm bảo sự ổn định và đoàn kết trong nước.[5][17] Một trong những biện pháp là khuyến khích nông dân tăng cường sản xuất, và nhờ vậy, Đại Việt đã "được mùa to, lúa ruộng ở hương Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông" (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư) vào cuối năm 1279.[1][5][18] Thêm vào đó, năm 1280, vua Trần ra lệnh hợp nhất hệ thống đo lường để thúc đẩy thương mại trên toàn quốc.[1][5][18] Trên phương diện chính trị-xã hội, triều đình Trần Nhân Tông đã tiến hành điều tra và cập nhật dân số, đồng thời tích cực giải quyết các khiếu nại oan sai của người dân.[1][5][18] Khi thủ lĩnh người dân tộc tại Đà Giang là Trịnh Giác Mật nổi dậy vào đầu năm 1280, Nhân Tông sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đi thuyết phục phiến quân quy hàng. Nhật Duật nhờ khéo ngoại giao và hiểu biết văn hóa dân bản địa, nên đã thu phục được Giác Mật mà không phải giao chiến.[19]

Về đối ngoại và quân sự, hai vua Trần ứng xử vừa khéo léo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Sau khi tiếp đón Sài Thung lần 3 vào năm 1280, năm 1281 Nhân Tông phái Trần Di Ái cùng Lê Mục, Lê Tuấn thay ông sang chầu vua Nguyên.[20][21] Hốt Tất Liệt vẫn quyết tâm xâm lược phương Nam; nhà Nguyên cử một số quan lại sang giám sát các châu huyện của Đại Việt, nhưng Nhân Tông đã trục xuất những người này về Trung Quốc. Không bỏ cuộc, khoảng năm 1281–1282, hoàng đế nhà Nguyên lập Trần Di Ái làm "An Nam Quốc vương", Lê Mục làm "Hàn lâm học sĩ" và Lê Tuân làm "Thượng thư", rồi lại sai Sài Thung đem 1 nghìn quân hộ tống nhóm Di Ái về bản quốc. Nhân Tông, Thánh Tông đã huy động lực lượng chặn đánh ở ải Nam Quan và bắt giữ nhóm Di Ái, song vẫn nghênh đón Sài Thung về Thăng Long.[16][22] Thất bại của việc lập Di Ái làm vua bù nhìn Đại Việt đã khiến Sài Thung tức giận đến mức khi "vua sai Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp. Xuân [cách gọi khác của Sài Thung] nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp."[17][5] Phải đến khi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng giả làm một tăng sĩ Trung Hoa đi vào sứ quán, Thung mới chịu tiếp.[17][5]

Khoảng tháng 9 – 11 năm 1282, nhà Nguyên một mặt cử tướng Toa Đô từ Quảng Châu tấn công Chiêm Thành, mặt khác sai Trấn Nam vương Thoát Hoan tập trung 50 vạn quân chuẩn bị "mượn đường đánh Chiêm" (mà thực chất là xâm lược Đại Việt).[5][21][17] Vào tháng 11, Nhân Tông mở hội nghị Bình Than để thảo luận với bá quan về phương án tổ chức kháng chiến. Hai tháng sau, hai vua Trần phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế – tức tổng chỉ huy toàn quân Đại Việt, đồng thời "chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị".[17] Cùng với Quốc Tuấn, Nhân Tông đã trực tiếp chỉ đạo các hoạt động huấn luyện, diễn tập của lục quân và thủy quân. Tháng 10 năm 1284, triều đình chia quân trấn giữ các địa bàn quan trọng trong cả nước.[23][5] Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn cử một số sứ giả mang lễ vật đi xin Thoát Hoan "hoãn binh" trong nửa cuối năm 1284.[17][5]

Không những đương đầu với người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã xây dựng mối quan hệ tích cực với nước Chiêm Thành ở phía Nam.[5] Tháng 12 năm 1282, ông đã gửi 2 vạn quân cùng 500 chiến thuyền sang hỗ trợ người Chiêm chặn đánh cánh quân Nguyên của Toa Đô. Nhưng trong các văn thư gửi cho người Nguyên, triều đình Nhân Tông một mực phủ nhận hành động này.[24][25]

Kháng chiến chống Nguyên (1285)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 1284, Thoát Hoan đưa quân đến sát ải Nam Quan và viết thư đòi "mượn đường" tấn công Chiêm Thành. Nhân Tông sai sứ thuyết phục Thoát Hoan rằng: "Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy, đường bộ đều không tiện cả"; và đồng thời, nhà vua ra lệnh cho Trần Quốc Tuấn thành lập tuyến phòng thủ trên biên giới.[26][27][28] Ngày 27 tháng 1, quân Nguyên vượt biên giới, đánh bại quân Đại Việt tại các cửa ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng. Trần Quốc Tuấn phải rút quân chạy về bến Vạn Kiếp (nay thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương).[29] Sau khi nhận tin này, Nhân Tông bỏ cả bữa ăn sáng để đi thuyền xuống Hải Đông và hội kiến với Quốc Tuấn.[22] Tại Hải Đông, ông truyền cho Trần Quốc Tuấn gọi quân từ các lộ phía đông bắc như Vân Trà, Ba Điểm về tập kết tại Vạn Kiếp. Các vương hầu như Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiện, Hưng Trí vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng cũng mang 20 vạn quân đến giữ nơi này.[29] Để động viên tinh thần tướng sĩ, Nhân Tông đã đề ở cuối thuyền 2 câu thơ rằng:[28][29]

Cối Kê việc cũ người nên nhớ
Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.

Ngày 11 tháng 2 năm 1285, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem binh thuyền tấn công Vạn Kiếp. Quân Đại Việt do nhà vua và Trần Quốc Tuấn chỉ huy đánh trả quyết liệt, giết được tướng Nguyên là Nghê Nhuận.[30] Tuy nhiên, người Việt đã quyết định rút lui để tránh thế địch mạnh, thực hiện nghi binh khiến địch mệt mỏi rồi mới phản kích.[30][28] Đến ngày 14, Ô Mã Nhi tổ chức bao vây 10 vạn quân của Nhân Tông tại Bình Than. Một trận thủy chiến lớn diễn ra và quân Nguyên cuối cùng đã không cản được quân Việt rút lui.[28][30] Nhân Tông cùng Quốc Tuấn rút đại quân từ Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than về đóng trên sông Hồng gần Thăng Long. Tại đây, vua Trần cho tập trung thủy quân và xây dựng các chiến lũy bằng gỗ trên bờ nam để cầm chân quân Nguyên, tạo thời gian cho việc sơ tán quân dân khỏi kinh thành theo kế vườn không nhà trống.[30] Ngày 17 tháng 2, quân Nguyên lập doanh trại trên bờ bắc sông Hồng. Nhân Tông sai Đỗ Khắc Chung sang thương thuyết với Ô Mã Nhi, mà thực chất là thăm dò tình hình địch. Ngay sau khi Khắc Chung về căn cứ, hai bên Nguyên-Việt đại chiến bên bờ sông Hồng. Quân Nguyên giành được thế thượng phong, nhưng quân dân Đại Việt đã kịp thời di tản khỏi Thăng Long.[31][28][32] Thánh Tông, Nhân Tông dẫn đại quân triệt thoái theo đường sông Hồng về hướng phủ Thiên Trường (Nam Định). Thoát Hoan chia quân làm 2 đường thủy bộ ráo riết truy kích.[32][28] Hai vua và Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một số trận đánh chặn tại bãi Đà Mạc và ải Hải Thị, nhưng bị thất bại. Sau trận Hải Thị, quân vua Trần lui hẳn về đóng quân tại Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình).[33][28]

Tháng 3 năm 1285, cánh quân Nguyên của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh thốc vào mạn nam Đại Việt. Hai vua và Trần Quốc Tuấn sai Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đón đánh Toa Đô ở Nghệ An[34][35]. Quân Nguyên nhanh chóng đánh bật quân Việt khỏi Nghệ An và Thanh Hóa, đẩy đại quân của Nhân Tông và Thánh Tông vào thế bị ép từ 2 mặt Bắc-Nam. Trần Quốc Tuấn đưa hai vua chạy về vùng bờ biển ở Quảng Ninh, Hải Phòng ngày nay. Trong hành trình rút lui, hai vua bị quân Nguyên đuổi gấp. Khi thấy quân Toa Đô đã rời Thanh Hóa tiến lên đóng ở Trường Yên (Ninh Bình), ngày 7 tháng 4 năm 1285 Nhân Tông và phụ hoàng lại vượt biển vào Thanh Hóa, thoát khỏi thế bị đối phương kìm kẹp.[35] Toa Đô đã đưa quân vào Thanh Hóa truy lùng nhà vua, nhưng không thể tìm ra ông.[36][37] Quân Nguyên cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt lương thực, không hạp khí hậu và liên tục bị dân binh Việt đánh phá sau lưng.[38][39]

Tại Thanh Hóa, hai vua Trần đã chỉnh đốn, tổ chức lại lực lượng. Khoảng tháng 3 – 4 âm lịch, Nhân Tông đã nhận định trong một cuộc họp với các quan:[40][38][28]

Trên tinh thần đó, hai vua và Trần Quốc Tuấn chia đại quân thành nhiều mũi thực hiện tổng phản công.[38][36][28] Dưới sự thống lĩnh của Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tung, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Nguyễn Khoái và một số tướng khác, các cánh quân Đại Việt đã liên tiếp đánh thắng quân Nguyên tại đồn A Lỗ (nơi gần điểm hợp lưu của sông Luộc với sông Hồng), cửa Hàm Tử (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), Chương Dương Độ (nay thuộc Thường Tín, Hà Nội) và giải phóng Thăng Long trong hai tháng 5, 6. Bản thân hai vua cũng thân chinh ra bắc và đập tan một lực lượng Nguyên trong trận Trường Yên ngày 7 tháng 6 năm 1285.[40][38][36] Tiếp theo đó, ngày 24 tháng 6 hai vua tiến đánh cánh quân Toa Đô tại Tây Kết (Khoái Châu). Toa Đô bị chém chết tại trận. Quân vua Trần đã bắt được hơn 5 vạn quân Nguyên và tịch thu vô số khí giới.[40][38][41] Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Nhân Tông khi thấy thủ cấp của Toa Đô đã nhận xét "người làm tôi phải nên như thế này", rồi cởi áo ngự phủ lên và sai người khâm liệm tử tế.[42] Cùng lúc đó, hai anh em Trần Quốc Tuấn, Quốc Tung mở nhiều cuộc tấn công lớn trên bờ bắc sông Hồng và quét sạch cánh quân Thoát Hoan khỏi Đại Việt.[38][43][28] Ngày 9 tháng 7 năm 1285, hai vua ca khúc khải hoàn trở về Thăng Long.[42]

Kháng chiến chống Nguyên (1287-88)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đánh bại cuộc tấn công của Nguyên-Mông, tháng 7 năm 1285, vua Nhân Tông đã phóng thích các tù binh người Chiêm Thành (họ quân Nguyên bắt tòng quân khi Toa Đô xâm lược Chiêm Thành nắm 1283) về nước. Tù binh quân chính quy Nguyên-Mông cũng được trở về quê hương vào mùa xuân năm 1286.[44] Về nội trị, tháng 9 năm 1285, ông đã tiến hành phong thưởng các quan, tướng có công và trừng phạt những người từng đầu hàng địch. Đến tháng 11, ông ra lệnh xét duyệt hộ khẩu nhằm "xem xét [tình trạng] hao hụt, điêu tàn của dân ta".[45][46]

Cuối năm 1286, Hốt Tất Liệt huy động 30 vạn quân và 500 thuyền chiến chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần hai.[47][48] Ngay sau khi nhận tin này từ các quan biên giới, Nhân Tông, Thánh Tông và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã đôn đốc vương hầu chiêu mộ, huấn luyện binh sĩ, đồng thời chế tạo binh khí và tàu thuyền để chuẩn bị kháng chiến.[49][47][46] Tháng 12 năm 1287, quân thủy bộ nhà Nguyên chia làm 3 đạo tiến vào Đại Việt. Khác với cuộc chiến năm 1285, quân Việt chỉ đánh có tính kìm chân rồi chủ động lui khỏi biên giới. Thoát Hoan lại tung 2 vạn quân thủy bộ tấn công và chiếm Vạn Kiếp làm căn cứ, sau đó tiến về Thăng Long.[50][47][51] Ngày 2 tháng 2 năm 1288, quân Nguyên mở màn đánh phá Thăng Long. Quân Đại Việt bỏ thành rút lui.[51][50] Cũng ngày này, hải quân Đại Việt do Trần Khánh Dư chỉ huy đã tập kích và tiêu diệt hoàn toàn đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ tại Vân Đồn (Quảng Ninh). Các đoàn thuyền lương khác của quân Nguyên cũng không vào được Đại Việt vì bị bão biển, hoặc vì đi lạc tới Chiêm Thành.[52]

Sau khi Thăng Long thất thủ, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi truy đuổi cha con vua Trần. Nhưng Thánh Tông và Nhân Tông đã lui xuống hạ lưu sông Hồng rồi eo cửa Giao Thủy đi ra biển vòng lên Tháp Sơn (Đồ Sơn).[53][51] Thoát Hoan đành thu quân về Thăng Long, sau đó cử Ô Mã Nhi đi tìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ. Lúc này hai vua và Trần Quốc Tuấn đã tập trung quân thủy bộ ở Tháp Sơn. Khi quân Ô Mã Nhi qua đây, Nhân Tông tổ chức tập kích ở cửa Văn Úc (ngày 10 tháng 2 năm 1288), và trên biển gần Tháp Sơn, gây nhiều thiệt hại cho quân Nguyên. Ô Mã Nhi bèn dẫn quân trở lại Vạn Kiếp.[50][54]

Ở Thăng Long mà không có lương thực, Thoát Hoan lúng túng. Không những thế, quân Đại Việt đã phản công mạnh mẽ và kiểm soát vùng Hải DươngHải Phòng đẩy Thoát Hoan vào nguy cơ bị cắt đường về Vạn Kiếp. Tình huống này buộc Thoát Hoan rút quân khỏi Thăng Long quay về Vạn Kiếp.[54] Hai vua Trần một mặt sai Hưng Ninh vương Quốc Tung đến giả vờ hẹn ngày đầu hàng để gây quân Nguyên mất cảnh giác, mặt khác cứ đến đêm lại tung quân đột kích vào Vạn Kiếp.[50] Cuối tháng 3 năm 1288, Thoát Hoan quyết định lui quân khỏi Đại Việt; Ô Mã Nhi được lệnh dẫn một cánh quân thủy rút về trước.[55][46] Ngày 9 tháng 4, cánh quân này tiến đến sông Bạch Đằng và lọt vào trận địa mai phục của đại quân Việt.[56] Dưới sự chỉ huy trực tiếp của hai vua và Trần Quốc Tuấn, quân Đại Việt đã tiêu diệt toàn bộ cánh thủy quân Nguyên, bắt sống nhiều tướng lĩnh (trong đó có Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ) và tịch thu 400 thuyền chiến.[57][46]

Ngày 18 tháng 4, hai vua Trần về phủ Long Hưng (Thái Bình) và đưa các bại tướng của trận Bạch Đằng bị bắt đến trình diện trước lăng Trần Thái Tông. Tương truyền khi đó chân của các tượng ngựa đá trong lăng đều lấm bùn, như thể những vật này cũng vừa mới tham gia chiến đấu. Nhân Tông tức cảnh ngâm hai câu thơ rằng:[58][59][60]

Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông ngàn thuở vững âu vàng.

Một ngày trước trận Bạch Đằng, đại quân Nguyên bắt đầu rút từ Vạn Kiếp lên Lạng Sơn. Quân Đại Việt đã liên tục phục kích, chặn đánh gây cho quân Nguyên tổn thất rất lớn. Đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, quân Nguyên đã bị đánh bật hoàn toàn khỏi Đại Việt.[50][61]

Những năm cuối trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hai cuộc kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, hai vua Thánh Tông và Nhân Tông đã bắt tay vào việc tái thiết kinh tế, xã hội Đại Việt. Khoảng tháng 5 năm 1288, Nhân Tông xuống chiếu đại xá thiên hạ và cắt giảm thế má, sưu dịch cho dân chúng. Đặc biệt, các vùng bị chiến tranh tàn phá đều được miễn thuế và sưu dịch hoàn toàn.[59][2]

Đền Trần Nhân Tông tại Huế.

Tháng 4 âm lịch năm 1289, Nhân Tông cùng Thượng hoàng xét công lao các tướng lĩnh trong cuộc chiến với Nguyên-Mông. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn được thăng lên Đại vương, Hưng Vũ vương Quốc Nghiện được phong Khai quốc công, Hưng Nhượng vương Quốc Tảng nhận chức Tiết độ sứ; Nguyễn Khoái được phong tước Liệt hầu và được cấp hẳn một hương làm thực ấp. Hai vua cũng phong quan tước cho các tù trưởng người dân tộc có công như Lương Uất và Hà Tất Năng.[62] Bên cạnh đó, Nội Minh tự Đỗ Hành là người đã bắt Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng, nhưng chỉ được phong Quan nội hầu vì không đem Ô Mã Nhi nộp cho Hoàng đế mà lại nộp Thượng hoàng. Hưng Trí vương Quốc Nghiễn cũng không được thăng chức vì cố chặn đánh tàn quân Nguyên ở biên giới dù nhà vua có lệnh không truy kích.[2][62] Đối với những người từng đầu hàng quân Nguyên, quan lại thì bị xử tử hoặc bắt đi đày, còn quân dân thì được tha chết nhưng phải chịu các loại hình phạt khổ sai như "chở gỗ đá, xây cung điện để chuộc tội", hoặc phải làm lính hầu, nô tỳ cho vương hầu và tể tướng.[62]

Tháng 2 âm lịch năm 1290, Nhân Tông cử quan văn đi trấn nhậm các lộ trong cả nước, để cơ cấu lại bộ máy hành chính vốn đã bị quân sự hóa trong chiến tranh.[62][2] Nhân Tông cũng quan tâm theo dõi công việc của quan lại địa phương. Khi nghe tin An phủ sứ Diễn Châu là Phí Mạnh hay nhũng nhiễu dân, Nhân Tông đã triệu Phí Mạnh về kinh đô và phạt đánh bằng trượng. Sau lần đó, Phí Mạnh trở nên đức độ đến mức người dân truyền tụng rằng quan An phủ Diễn Châu trong sạch như nước.[63][2][64][65] Bên cạnh việc dân sự hóa chính quyền, hai vua Thánh Tông, Nhân Tông đã chủ trương hạn chế tối đa số viên chức nhà nước. Sau này khi Nhân Tông làm Thái thượng hoàng, có lần ông đã phàn nàn với Trần Anh Tông vì vua này bổ nhiệm quá nhiều quan chức: "Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế".[2][66]

Khoảng năm 1289–1290, sản xuất nông nghiệp bị đình trệ do sự chuyển biến thất thường của thời tiết.[67][2] Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, năm 1289 có tình trạng "hạn từ tháng 6 mùa hạ đến tháng 10 mùa đông", sau đó "mùa hạ, tháng 4 [năm 1290], sông Tô Lịch chảy ngược (sông này hễ có mưa to thì nước rút, tràn và chảy ngược)" và đến tháng 9 âm lịch năm 1290, nạn đói xảy ra khiến nhiều người phải bán ruộng đất và bán cả con mình làm nô tỳ cho người khác. Trước tình hình này, Nhân Tông chỉ thị phát chẩn thóc cho người dân và bãi bỏ thuế nhân đinh[67][2]. Chính sách trị dân của ông đã giúp Đại Việt dần dần phục hồi sau những năm chiến tranh và đói kém. Năm 1293, khi sứ nhà Nguyên là Lương Tăng và Trần Phu sang Đại Việt, họ đã chứng kiến một Đại Việt phồn vinh với những hình ảnh như "lúa mỗi năm gặt bốn lần, tuy vào mùa đông rét, mạ vẫn phơi phới", hay "thôn xóm đều có chợ, mỗi hai ngày họp một lần, trăm món tạp hóa đều dồi dào""thuyền bè các nước mọi ngoài biển đều đến rất đông, buôn bán trên thuyền rất rộn rịp" (theo An nam tức sự của Trần Phu). Công nghiệp và thủ công nghiệp của Đại Việt cũng lớn mạnh tạo điều kiện cho triều đình Nhân Tông tu bổ, xây mới toàn bộ những cầu, đường và cung điện đã bị đốt phá trong chiến tranh.[2]

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối thời Nhân Tông, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới phía tây Đại Việt, bởi vậy năm 1290 nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp.[68]

Đối với nhà Nguyên, hai vua Trần tiếp tục thực thiện chính sách đối ngoại mềm dẻo với nhà Nguyên.[69][2] Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1288, Nhân Tông đã ba lần cử sứ giả sang Nguyên để triều cống và "tạ tội".[62][2] Đồng thời, triều đình Trần cũng gửi vua Nguyên một bức thư biện hộ cho hai cuộc kháng chiến năm 1285 và 1287-88, trong đó có đoạn: "Năm Chí Nguyên thứ 23 (1286), bình chương A Lý Hải Nha tham công ngoài biên giới, làm trái Thánh chỉ... Mùa đông năm Chí Nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ...". Đến tháng 12 năm 1288, Hốt Tất Liệt sai Lý Tư Diễn và Vạn Nô đi đòi Nhân Tông sang chầu và thả tù binh Nguyên về nước. Vua Trần đã thiết đãi nồng hậu và biếu vàng bạc cho sứ Nguyên, nhưng dứt khoát không chịu sang chầu.[70][2] Đầu năm 1289, Nhân Tông truyền lệnh đưa hết tù binh Nguyên về nước. Riêng đối với Ô Mã Nhi, Nhân Tông và Hưng Đạo Đại vương quyết định ám sát để trừ hậu họa. Nhà vua cấp thuyền cho Ô Mã Nhi trở về, rồi chọn người lặn giỏi làm phu thuyền và nhân lúc đêm tối dùi thuyền thủng cho đắm. Vua Trần đã giải thích với Hốt Tất Liệt rằng Ô Mã Nhi chết đuối do thuyền bị rỉ nước.[2][69][62] Người Nguyên không thể tra cứu việc này nên đành lờ đi, không trách cứ.[71]

Sau thất bại trong cuộc chiến năm 1288, nhà Nguyên vẫn chưa bỏ mộng xâm lược Đại Việt.[69] Mặc dù Nhân Tông đã sai Nghiêm Trọng Duy và Trần Tử Trường sang Nguyên dâng lễ vật và "tạ tội không vào chầu" vào tháng 9 âm lịch năm 1291, vua Nguyên lại cử Trương Lập Đạo và Thiếp Mộc Nhĩ sang dụ Nhân Tông đến chầu vào cuối năm 1291 – đầu năm 1292. Nhân Tông tiếp tục từ chối với lý do chịu tang cha (Thượng hoàng Trần Thánh Tông mất năm 1290); sau đó ông sai Nguyễn Đại Phạp và Hà Duy Nghiêm sang triều cống vua Nguyên.[2][16] Năm 1293, sau khi Nhân Tông truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, Hốt Tất Liệt lại sai sứ sang bắt vua Trần vào chầu. Anh Tông cáo bệnh không đi và sai Đào Tử Kỳ sang cống nạp.[72] Nhà Nguyên giam Tử Kỳ ở Giang Lăng và sửa soạn tấn công Đại Việt. Nhưng việc chuẩn bị chưa hoàn tất thì Hốt Tất Liệt chết; tân hoàng đế Nguyên Thành Tông đã hủy bỏ kế hoạch xâm chiếm Đại Việt, đồng thời thả Tử Kỳ về nước.[2][73][15]

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 3 âm lịch năm Quý Tỵ (tức ngày 16 tháng 4) năm 1293, Trần Nhân Tông truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên – tức hoàng đế Trần Anh Tông – rồi lên làm Thái thượng hoàng. Anh Tông tặng vua cha tôn hiệu là Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế (憲堯光聖太上皇帝).[74] Năm sau (1294), Thượng hoàng xuất gia tu Phật tại hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình). Dựa trên dữ liệu từ Thánh đăng ngữ lục, tiến sĩ Lê Mạnh Thát phỏng đoán rằng Nhân Tông đã nhận được tâm ấn từ Tuệ Trung Thượng sĩ.[7] Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn tham gia cùng Anh Tông trị nước. Tháng 8 âm lịch năm 1294, quân Ai Lao xâm lấn Đại Việt lần hai và Thượng hoàng lại thân chinh đánh dẹp. Quân Việt do Nhân Tông chỉ huy đã đánh tan quân Ai Lao, đồng thời thu được nhiều tù binh và chiến lợi phẩm.[75][7] Nhân Tông cũng chủ trì tiếp phái bộ Lý Trọng Tân - Tiêu Phương Nhai của nhà Nguyên vào năm 1295 (trong dịp này Nhân Tông đã sáng tác bài Tiến sứ Bắc Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai – một trong hơn 30 bài thơ hiện còn lưu hành của ông).[76][7] Sau đó, năm 1296 hai vua Trần sai Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo qua Nguyên để thỉnh Đại tạng kinh về Đại Việt, và được Nguyên Thành Tông chấp thuận.[7][77][15]

Sơ tổ Trúc Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Việt Nam
Tam.jpg

Sơ khai

Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi

Thiền phái Vô Ngôn Thông

Thiền phái Thảo Đường

Thiền phái Trúc Lâm

Tượng Giác Hoàng Trần Nhân Tông đặt trong tháp Huệ Quang

Tháng 10 (âm lịch) năm 1299, Nhân Tông rời đến Yên Tử (Quảng Ninh), lấy pháp danh Hương Vân Đại Đầu đà (香雲大頭陀) và tu hành theo thập nhị đầu-đà (mười hai điều khổ hạnh).[10] Ông còn có đạo hiệu là Trúc lâm đại đầu đà (竹林大頭陀), hay Trúc Lâm đại sĩ (竹林大士) và Giác hoàng Điều ngự (覺皇調御).[78][79] Vào thế kỷ 11-13, Phật giáo Đại Việt tồn tại chủ yếu dựa trên 3 dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi, Thảo ĐườngVô Ngôn Thông. Điều ngự đã hợp nhất các tông phái này vào dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.[80] Đây được xem là giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật tại Việt Nam.[81] Thiền phái Trúc Lâm vừa tiếp thu nền tảng Phật giáo Nam Áthiền Đông Độ, vừa sử dụng các giá trị văn hóa Việt Nam và khuyến khích Phật tử cống hiến cho xã hội trên nền tảng Từ bi – Trí tuệ của Phật pháp.[8][80] Bản thân Điều ngự không chỉ an cư tại Yên Tử, mà còn tổ chức nhiều buổi thuyết pháp cho tăng chúng ở các chùa như Phổ Minh (Thiên Trường), Sùng Nghiêm (Chí Linh), Vĩnh Nghiêm (Lạng Giang) và Báo Ân – Siêu Loại (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội).[82] Ông cũng xây dựng nhiều tự viện và đi giáo hóa trong cả nước, kể cả ở thôn quê lẫn thành thị. Trên cương vị là thượng hoàng-thiền sư, ông đã dạy dân bài trừ các tập tục mê tín, dị đoan và tu dưỡng đức hạnh theo giáo pháp Thập thiện (mười điều thiện).[7][83][15] Ông cũng khuyên bảo Anh Tông từ bỏ rượu chè, đồng thời đóng góp ý kiến cho các quyết sách của nhà vua.[84][85][7]

Tháng 3 âm lịch năm 1301, Giác hoàng Điều ngự du hóa đến châu Bố Chính – một vùng đất địa đầu phía nam của Đại Việt – và dựng lên am Trì Kiến. Từ Bố Chính, ông sang Chiêm Thành và ở lại đây gần một năm. Bài dẫn của Trần Quang Chỉ trong tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ đã mô tả về chuyến đi này rằng: Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước...".[7] Cũng chính trong lần này, Điều ngự đã hứa gả con là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân; để đáp lễ, Chế Mân xin nhượng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt.[84][7] Hôn lễ giữa Huyền Trân với vua Chiêm được cử hành vào năm 1306. Vua Anh Tông sáp nhập hai châu Ô, vào Đại Việt và đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa.[86]

Sau cuộc vân du ở Chiêm Thành, Điều ngự về phủ Thiên Trường vào tháng 1 âm lịch năm 1303 để "mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí" (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư).[84] Năm 1304, Điều ngự đến kinh đô Thăng Long và tiến hành lễ thọ giới Bồ tát cho vua Trần Anh Tông cùng vương hầu, quan lại trong triều.[10] Năm 1304, khi đang hoằng hóa tại huyện Nam Sách (Hải Dương), Điều ngự đã gặp và thu nhận Pháp Loa (Đồng Kiên Cương; 1284 – 1330) và làm đệ tử xuất gia. Sau đó ông đào tạo cho Pháp Loa trở thành người kế thừa thiền phái của mình.[87] Ngày 1 tháng 1 âm lịch năm 1308, Điều ngự chính thức công nhận Pháp Loa làm người nối pháp.[83] Lễ truyền đăng cho Pháp Loa được cử hành tại chùa Báo Ân-Siêu Loại và được tường thuật qua sách Tam Tổ thực lục (tờ 18b3-19a8) như sau:[3][87]

Tháp Huệ Quang, nơi chứa một phần xá lợi của Trần Nhân Tông.

Trong cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài (xuất bản năm 1995), tác giả Nguyễn Hiền Đức nhận định buổi lễ này đã cho thấy " Trúc Lâm muốn rằng vua Anh Tông và các đại thần trong triều đình phải chánh thức tôn kính Pháp Loa như "bậc thầy" giống như tôn kính Trúc Lâm. Ngoài ra, Trúc Lâm cũng muốn cho biết rằng: Từ vua, triều thần cho đến tất cả chư Tăng Ni, Phật tử cả nước phải công nhận Pháp Loa là vị Tổ thứ hai, thay thế Trúc Lâm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo thống nhất từ thời Trần, tức lãnh đạo phái thiền Trúc Lâm do Trúc Lâm Đầu Đà khai sáng.".[83] Sách Trần Nhân Tông toàn tập (xuất bản năm 2006) của tiến sĩ Lê Mạnh Thát còn có nhận xét rằng việc ban tặng "ngoại thư kinh sử" cho Pháp Loa chứng tỏ Điều ngự yêu cầu đệ tử phải biết kết hợp lý tưởng Bồ-tát của Phật pháp với lý tưởng trượng phu của thế gian.[3]

Tháng 12 năm 1308, Điều ngự Trần Nhân Tông viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân (Yên Tử). Về ngày mất của Điều ngự, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép là ngày 3 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (tức ngày 16 tháng 12 năm 1308) trong khi Thánh đăng ngữ lục viết là ngày 1 tháng 11 âm lịch (tức ngày 14 tháng 12). Thánh đăng ngữ lục đã tường thuật về cuộc đối thoại cuối cùng giữa Điều ngự với thị giả Bảo Sát:[10]

Xá lợi của Điều ngự được Anh Tông chia làm làm ba phần – một phần được chôn cất ở lăng Quy Đức (phủ Long Hưng), một phần được chứa trong bảo tháp Huệ Quang (Yên Tử) và phần còn lại được lưu giữ tại chùa Phổ Minh (Thiên Trường). Nhà vua còn sai đắp hai pho tượng vàng thờ Điều ngự ở chùa Vân Yên (Yên Tử) và chùa Báo Ân (Siêu Loại).[10][83] Triều đình dâng Điều ngự miếu hiệuNhân Tôngthụy hiệu Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế (法天崇道應世化民隆慈顯惠聖文神武元明睿孝皇帝).[88]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh Thượng hoàng Nhân Tông trong tác phẩm Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ được cho là của Trần Giám Như.

Trần Nhân Tông được xem là một nhà thơ, nhà văn hóa tiêu biểu của Đại Việt thời trung đại.[79] Tác phẩm của ông bao gồm:

  • Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)
  • Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng)
  • Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá)
  • Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)
  • Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)
  • Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược.

Các tác phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 32 bài thơ, kệ chép trong Thánh đăng ngữ lục, Thiền tông bản hạnh, An Nam chí lược, Nam Ông mộng lục, Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục, cộng thêm 3 đoạn phiến trong Đại Việt Sử ký Toàn thưAn Nam chí lược.[89][90] Theo đánh giá trong sách Thơ văn Lý Trần (tập 2, quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn, thơ Trần Nhân Tông mang tính chất "kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ".[79]

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Xuân hiểu
Thụy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi
 
Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay,
Song song đôi bướm trắng,
Phất phới sấn hoa bay.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)[91]
Thiên Trường Phủ
Lục ám hồng hi bội tịch liêu,
Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu.
Trai đường giảng hậu tăng quy viện,
Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều.
Tam thập tiên cung hoành dạ tháp,
Bát thiên hương sát động xuân triều.
Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc,
Phảng phất canh tường nhập mộng nghiêu.
 
Phủ Thiên Trường
Lục rậm, hồng thưa cảnh quạnh hiu,
Mây quang, mưa tạnh đất tan rêu.
Phòng trai giản đoạn, sư về viện,
Cầu bến canh đầu, bóng nguyệt treo.
Ba chục cung tiên, giường ngủ đặt,
Tám nghìn bóng tháp, nước triều reo.
Phổ Minh phong cảnh, chùa như cũ,
Trong giấc mơ màng Thuấn thấy Nghiêu.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)[92]
Cư trần lạc đạo phú
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
 
Bản dịch:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền.
Có báu trong nhà thôi tìm kiếm,
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.
(người dịch: Lê Mạnh Thát)[93]

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Khâm Từ hoàng hậu Trần thị (欽慈皇后陳氏; ? - 1293), húy Trinh (貞), con gái trưởng của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
  2. Tuyên Từ hoàng hậu Trần thị (宣慈皇后陳氏; ? - 1318), em gái của Khâm Từ hoàng hậu, mẹ là thị thiếp của Hưng Đạo đại vương.
  • Con:
  1. Trần Thuyên [陳烇], sau trở thành Trần Anh Tông (陳英宗), con của Khâm Từ hoàng hậu.
  2. Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn [惠武大王陳國瑱], có thể mẹ là Tuyên Từ hoàng hậu.
  3. Thượng Trân công chúa [上珍公主], lấy Văn Huệ công Trần Quang Triều, cháu nội Trần Hưng Đạo.
  4. Thiên Trân công chúa [天珍公主; ? - 1309], lấy Uy Túc công Trần Văn Bích, con Văn Túc vương Trần Đạo Tái, cháu nội Trần Quang Khải.
  5. Huyền Trân công chúa [玄珍公主], lấy Chế Mân vua nước Chiêm Thành.

Đền thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 185–186.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Lê Mạnh Thát 1999, chương V: "Vua Trần Nhân Tông và sự nghiệp xây dựng hòa bình thời hậu chiến"
  3. ^ a ă â Lê Mạnh Thát 1999, chương IX: "Vua Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm"
  4. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 186–188.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Lê Mạnh Thát 1999, chương II: "Tuổi trẻ vua Trần Nhân Tông"
  6. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 201–203.
  7. ^ a ă â b c d đ e ê Lê Mạnh Thát 1999, chương VI: "Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia"
  8. ^ a ă Bảo Anh. “Trúc lâm Yên Tử - Thiền phái đậm chất văn hóa Việt”. Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam. Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Truy cập 15 tháng 11 năm 2016. 
  9. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 182.
  10. ^ a ă â b c d Hòa thượng Thích Thanh Từ (phiên dịch) (1999). Thánh Đăng Lục Giảng Giải (PDF). Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh. tr. 54. Truy cập 15 tháng 11 năm 2016. 
  11. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 185-186.
  12. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 220-221.
  13. ^ Pháp Đăng. "Chất Phật” & “Chất Vua” trong con người của Phật Hoàng Trần Nhân Tông.”. Giác Ngộ Online. Truy cập 16 tháng 11 năm 2016. 
  14. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 220–221.
  15. ^ a ă â b Lê Tắc 1961, tr. 106.
  16. ^ a ă â Lê Tắc 1961, tr. 28–30.
  17. ^ a ă â b c d Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 188–189.
  18. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 221–222.
  19. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 222–223.
  20. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 187–188.
  21. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 223–224.
  22. ^ a ă Trần Trọng Kim 1971, tr. 54–55.
  23. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 188-189.
  24. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 125–127.
  25. ^ Lê Mạnh Thát 1999, chương II: "Tuổi trẻ vua Trần Nhân Tông"
  26. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 225–227.
  27. ^ Lê Cung. “Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông”. Giác Ngộ Online. Truy cập 18 tháng 11 năm 2016. 
  28. ^ a ă â b c d đ e ê g Lê Mạnh Thát 1999, chương III: "Vua Trần Nhân Tông Và Cuộc Chiến tranh Vệ Quốc Năm 1285"
  29. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 190–191.
  30. ^ a ă â b Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 211–216.
  31. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 79–81.
  32. ^ a ă Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 222–228.
  33. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 227–235.
  34. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 192–193.
  35. ^ a ă Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 239–243.
  36. ^ a ă â Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 245–251.
  37. ^ Trần Xuân Sinh 2006, tr. 191.
  38. ^ a ă â b c d Trần Trọng Kim 1971, tr. 58–59.
  39. ^ Hà Thành (14 tháng 8 năm 2001). “Thăng Long với kế sách “thanh dã” trong chống giặc ngoại xâm”. Quốc phòng Toàn dân. Quân Ủy Trung Ương và Bộ Quốc phòng. Truy cập 5 tháng 12 năm 2016. 
  40. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 193–194.
  41. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 245.
  42. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 194–195.
  43. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 254–261.
  44. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 232.
  45. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 195.
  46. ^ a ă â b Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 81–82.
  47. ^ a ă â Trần Trọng Kim 1971, tr. 60–61.
  48. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 265–269.
  49. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 195–196.
  50. ^ a ă â b c Lê Mạnh Thát 1999, chương IV: "Vua Trần Nhân Tông Và Cuộc Chiến tranh Vệ Quốc Năm 1288"
  51. ^ a ă â Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 293–298.
  52. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 290–291.
  53. ^ Trần Xuân Sinh 2006, tr. 221.
  54. ^ a ă Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 300–304.
  55. ^ Viện lịch sử quân sự Việt Nam 2000, tr. 319–320.
  56. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 308–310.
  57. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 316–317.
  58. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 198.
  59. ^ a ă Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 83.
  60. ^ Hồ Tấn Nguyên Minh (29 tháng 2 năm 2012). “Thơ chiến trận của Trần Nhân Tông”. Văn hóa Nghệ An. Truy cập 29 tháng 11 năm 2012. 
  61. ^ Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm 1972, tr. 318–323.
  62. ^ a ă â b c d Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 199–200.
  63. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 202.
  64. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 85.
  65. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 241.
  66. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 229.
  67. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 201–202.
  68. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 52–53.
  69. ^ a ă â Trần Trọng Kim 1971, tr. 63–65.
  70. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 474–475.
  71. ^ Trần Xuân Sinh 2006, tr. 241.
  72. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 203.
  73. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 63-65.
  74. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 203–204.
  75. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 206.
  76. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 458–459.
  77. ^ Nguyễn Hiền Đức 1973, chương 1–C–1: "Truyền thống Trúc Lâm Yên Tử–Hành trạng tam tổ Trúc Lâm–Hành trạng Tôn giả Pháp Loa (1284–1330)"
  78. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 220.
  79. ^ a ă â Nhiều tác giả 1988, tr. 451–455.
  80. ^ a ă “Khái quát về lịch sử Phật giáo Việt Nam”. Khuông Việt (Hà Nội: Học viện Phật giáo Việt Nam) 1: 70–71. Tháng 12 năm 2007. Truy cập 6 tháng 12 năm 2016. 
  81. ^ Hoàng Độ (14 tháng 9 năm 2016). “Hướng tới kỷ niệm 35 năm thành lập GHPGVN: Kỳ 1: Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo VN”. Giác Ngộ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Truy cập 5 tháng 12 năm 2016. 
  82. ^ Nguyễn Tài Thư 1988, tr. 147.
  83. ^ a ă â b Nguyễn Hiền Đức 1973, chương 1–C–1: "Truyền thống Trúc Lâm Yên Tử–Hành trạng tam tổ Trúc Lâm–Hành trạng sơ tổ Trúc Lâm"
  84. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 208–216.
  85. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 230.
  86. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 218.
  87. ^ a ă Nguyễn Tài Thư 1988, tr. 148.
  88. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 222.
  89. ^ Nguyễn Huệ Chi (2004). Từ điển văn học mới. Nhà xuất bản Thế giới. tr. 1790. 
  90. ^ Lê Mạnh Thát 1999, phần II: "Tác phẩm Trần Nhân Tông"
  91. ^ Nguyễn Huệ Chi; Trần Thị Băng Thanh (7 tháng 9 năm 2012). “Sự thống nhất giữa hoàng đế, thi nhân, và thiền gia trong một nhân cách - Trần Nhân Tông”. Hoằng Pháp. Truy cập 2 tháng 12 năm 2016. 
  92. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 473.
  93. ^ Lê Mạnh Thát 1999, phần II: "Tác phẩm Trần Nhân Tông – Phú Trần Nhân Tông – Cư Trần Lạc Đạo Phú"

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Sĩ Liên (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Ngô Thì Sĩ; Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (phiên dịch) (1991). Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử. 
  • Lê Tắc; Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam (phiên dịch) (1961). An Nam chí lược. Viện Đại Học Huế. 
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Nguyễn Huệ Chi; Trần Thị Băng Thanh; Đỗ Văn Hỷ; Trần Tú Châu (1988). Thơ văn Lý Trần (PDF). II—Quyển thượng. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2000), Anh hùng dân tộc thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 
  • Hà Văn Tấn; Phạm Thị Tâm (1972). Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII. Bản in lại năm 2003. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 
  • Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng 
  • Nguyễn Tài Thư (1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội, ISBN 1565180984 
  • Lê Mạnh Thát (1999). Trần Nhân Tông: Con người và tác phẩm. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. 
  • Nguyễn Hiền Đức (1973). Lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài. Đại học Văn khoa Sài Gòn. 
  • Chapuis, Oscar (1995), A history of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc, Greenwood Publishing Group, ISBN 0-313-29622-7 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Trần Thánh Tông
Vua nhà Trần
12781293
Kế nhiệm:
Trần Anh Tông
Tiền nhiệm:
Không có
Sư tổ Thiền phái Trúc Lâm
1293–1308
Kế nhiệm:
Pháp Loa