Trần Quang Triều

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trần Quang Triều
陳光朝
Hoàng tử Đại Việt
Nhập nội kiểm hiện Tư đồ
Thông tin chung
Thê thiếp Thượng Trân công chúa
Tên khác Hiệu: Cúc Đường chủ nhân (菊塘主人)
Vô Sơn Ông (无山翁)
Tước hiệu Văn Huệ vương (文惠王)

Trần Quang Triều (chữ Hán: 陳光朝, 1287[1] -1325) còn có tên là Nguyên Đào[2], biệt hiệu là Cúc Đường chủ nhân (菊塘主人) và Vô Sơn Ông (无山翁), là một nhà chính trị, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần, làm quan đến chức Tư đồ (tể tướng) thời Trần Minh Tông. Ông còn là một cư sĩ Phật giáo mộ đạo và là nhà thơ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Quang Triều nguyên quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường; nay thuộc tỉnh Nam Định. Ông là con trai cả Hưng Nhượng đại vương Trần Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, và là em trai của Bảo Từ Thuận Thánh hoàng hậu, chính thê của Trần Anh Tông. Thuộc dòng dõi quý tộc, hơn nữa lại là dòng dõi Trần Hưng Đạo nên ông được biệt đãi.

Năm Hưng Long thứ 9 (1301), tháng 4, khi mới 14 tuổi, ông được vua Trần Anh Tông phong tước Văn Huệ vương (文惠王), và sau đó được làm quan tại triều.

Ông là người văn võ toàn tài, nhưng không ham phú quý. Khi vợ ông là Thượng Trân công chúa (上珍公主) qua đời, ông về tu [3]Bích Động am, thuộc huyện Đông Triều và lập ra Bích Động thi xã (碧洞诗社) để cùng xướng họa với các bạn thơ, như Nguyễn Sưởng, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Ức, Tự Lạc tiên sinh,...

Năm Khai Thái nguyên niên (1324), dưới triều Trần Minh Tông, Trần Quang Triều được triệu ra gánh vác việc nước. Ông giữ chức Nhập nội kiểm hiệu Tư đồ. Tháng 8 năm Khang Thái thứ 2 (1325), Văn Huệ vương Quang Triều mất[4], và ông chỉ ở khoảng 38 tuổi. Không có ghi chép về hậu duệ của ông.

Căn cứ bài thơ "Tống Cúc Đường chủ nhân chinh Thích Na" (Tiễn Cúc Đường chủ nhân đi đánh Thích Na) của Nguyễn Ức, thì khi đang chức, Tư đồ Trần Quang Triều đã từng cầm quân đi đánh Thích Na[5].

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Trần Quang Triều mất, bạn bè ông đã thu thập và biên tập thơ ông thành tập Cúc Đường di cảo (菊塘邸抄)[6]. Nhưng trong thời gian kháng Minh, tập thơ ấy đã thất lạc. Đến đầu thời , Phan Phu Tiên sưu tầm được 11 bài bèn chép trong Việt âm thi tập.

Mặc dù số thơ của Trần Quang Triều còn lại không nhiều, nhưng ông cùng với Nguyễn ỨcNguyễn Sưởng họp thành một dòng thơ riêng thời Trần. Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, thì đó là những con người mang trong lòng nỗi thất vọng sâu sắc về sự suy thoái của vương triều này. Vì thế có thể thấy trong thơ Trần Quang Triều, gần như chỉ phơi bày một tâm trạng cô đơn, với bao điều ngổn ngang. Song cái buồn của ông chỉ là cái buồn nhẹ, chứ chưa đến mức bi đát, vô vọng như Nguyễn Ức. Cho nên lời thơ của ông hãy còn trong sáng, gợi cảm, chứ chưa rơi vào ảo não; được Phan Huy Chú đánh giá là "thanh thoát, đáng ưa"[7]. Giới thiệu 1 bài:

Phiên âm Hán-Việt:
Quy chu tức sự
Qủy ngộ niệm thù khinh,
Quy tâm mộng tự vinh (oanh).
Ðiểu đề yên thụ một,
Phàm đới tịch dương hành.
Thu tước sơn dung sấu,
Triều khai thủy giám minh.
Túy ông hồn vị tỉnh,
Hồng diệp mãn giang thành.
Dịch nghĩa
Thuyền về tức cảnh
Nghĩ đến những cuộc gặp gỡ giả dối lòng càng coi nhẹ,
Cho nên giấc mộng về cứ vương vấn mãi.
Chim kêu khuất trong đám cây lồng khói,
Cánh buồm đi ngang theo bóng chiều tà.
Hơi thu đẽo gầy dáng núi,
Triều lên, mặt nước như gương sánh.
Ông già say vẫn chưa tỉnh,
Lá đỏ rơi đầy thành ven sông.

Thi xã Bích Động[sửa | sửa mã nguồn]

Bích Động thi xã là tên một hội thơ do Trần Quang Triều làm chủ soái. Đây là một trong những hội thơ sớm nhất của nền thi ca phong kiến Việt Nam, có từ thế kỷ 14, trước cả Tao đàn Nhị thập bát Tú do vua Lê Thánh Tông sáng lập.

Thi xã được lập ở am Bích Động, cạnh chùa Quỳnh Lâm (nay thuộc xã Tràng An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh), nơi có các lăng mộ vua Trần, điền trang và thái ấp tổ tiên của Trần Quang Triều. Thi xã đã tụ hội được một số nhà thơ có tiếng thời bấy giờ, những thành viên còn biết đến ngày nay là Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Ức, Nguyễn Trung Ngạn...[8].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chép theo Nguyễn Huệ Chi (tr. 1798). Trần Văn Giáp (tr. 857) ghi ông sinh năm 1285.
  2. ^ Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Quyển 8, tờ 5a) và Lê Quý Đôn trong Toàn Việt thi lục đều ghi là Trần Nguyên Đào.
  3. ^ Đại Việt sử ký toàn thư (quyển 6, tờ 25a) kể: "Thượng Trân Công chúa mất, (vua Trần) Minh Tông đến điếu tang, Văn Huệ (vương) ra đón tiếp tâu bày, như không có gì đau buồn, mọi người đều cho là (Văn Huệ) thế nào cũng lại lấy vợ khác. Nhưng sau Văn Huệ đi tu đến trọn đời".
  4. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển 6, tờ 43b.
  5. ^ Thích Na là địa danh hay là tên đội quân, chưa tra được.
  6. ^ Căn cứ bài "Cảm tác khi biên tập di cảo của Cúc Đường" (Biên tập Cúc Đường di cảo cảm tác), thì người biên tập Cúc Đường di cảo chính là Nguyễn Ức, tác giả bài thơ.
  7. ^ Lược theo Nguyễn Huệ Chi, tr. 1216 và 1799.
  8. ^ Theo thông tin trên website của Hội Nhà văn Việt Nam [1].
  • Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (Tập 2). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1985.
  • Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003.
  • Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Trần Quang Triều" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Văn học thế kỷ X-XVI, mục từ "Trần Quang Triều". Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]