Giác Hải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiền sư Việt Nam
Tam.jpg

Sơ khai

Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi

Thiền phái Vô Ngôn Thông

Thiền phái Thảo Đường

Thiền phái Trúc Lâm

Thiền sư Giác Hải (覺海, ? - ?) là người họ Nguyễn [1]; là thiền sư Việt Nam thời nhà Lý, thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông[2].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Giác Hải là người hương Hải Thanh, phủ Hải Thanh (nay là xã Hộ Xá, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).

Theo sách "Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược" (Phòng Địa chí - Thư viện tỉnh Nam Định chế bản) tại trang 146, trong mục chùa Keo thì: Không Lộ tên chính là Nguyễn Chí Thành người xã Điềm Xá huyện Gia Viễn cùng Nguyễn Viết Y người xã Loa Điền Hải Thanh kết bạn với nhau, Chí Thành đạo hiệu là Không Lộ, Viết Y đạo hiệu là Giác Hải, sau gặp sư Từ Đạo Hạnh người Yên Lãng cùng sang Tây Trúc học đạo đều thành.[3]

Theo Đại Nam nhất thống chí, Sư tên Quốc Y, hiệu Giác Hải, người Giao Thủy, Hải Nam, nhỏ theo nghề chèo chài lưới của cha. Sau bà mẹ đem về Yên Vệ (Yên Khánh, Ninh Bình) cùng với Nguyễn Minh Không (tức Lý Quốc Sư) kết bạn, đi Tây Trúc cầu đạo. Ðược đạo rồi, bèn trở về Giao Thủy, trụ trì chùa Nghiêm Quang tức Chùa Keo Hành Thiện ngày nay.[4]

Hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thuở trai trẻ, ông làm nghề đánh cá, thường lênh đênh trên sông biển.

Năm 25 tuổi, ông dứt bỏ thế nghiệp, xuống tóc đi tu. Lúc đầu, ông với Nguyễn Minh Không theo học đạo với nhà sư Hà Trạch ở chùa Diên Phước. Sau sư lại kế thừa dòng pháp Vô Ngôn Thông.

Thời vua Lý Nhân Tông, thiền sư Giác Hải và Thông Huyền chân nhân có lần được vời vào hoàng cung ngồi hầu vua. Đến đời vua Lý Thần Tông, thiền sư Giác Hải được triệu vào nhiều lần, nhưng đều viện cớ bệnh để không tới.

Lúc sắp tịch, thiền sư gọi chúng đến dạy kệ rằng:

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.
Ngô Tất Tố dịch thơ:
Xuân sang hoa bướm khéo quen thì
Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kỳ
Nên biết bướm hoa đều huyền ảo [5]
Thây hoa mặc bướm, để lòng chi.

Đêm ấy có ngôi sao lớn rơi xuống ngay góc đông nam nhà phương trượng. Thiền Sư ngồi nói chuyện đến sáng rồi ngồi ngay ngắn mà mất (không rõ năm mất).[6]. Vua xuống chiếu cho lấy thuế ba mươi hộ để cúng hương hỏa, và cho hai người con trai [7] của thiền sư ra làm quan để tỏ lòng khen thưởng.

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Thiền uyển tập anh chép (dịch):

Ðời vua Lý Nhân Tông, Sư (Giác Hải) thường cùng Thông Huyền chân nhân, bị triệu vào nhà hóng mát hầu hạ, bỗng có tiếng cắc kè kêu nhau chối tai, đáng ghét. Vua khiến Huyền làm cho nó đừng kêu. Huyền bèn lâm râm niệm chú, làm rơi trước một con. Huyền cười Sư, Sư bảo "Ðang còn một con, để đó cho Sa môn". Sư chú mục nhìn, trong giây lát, nó cũng rơi theo. Vua lấy làm lạ, làm một bài thơ khen:
"Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo lại huyền
Thần thông cùng biến hóa
Một Phật, một thần tiên".
Từ đó, tiếng tăm Sư vang khắp thiên hạ, tăng tục ngưỡng chuộng. Vua thường đối đãi Sư như bậc thầy. Mỗi lần ra chơi hành cung Hải Thanh, vua tất đến chùa Sư trước. Một hôm, vua hỏi Sư: "Phép ứng chân thần túc, có thể được nghe chăng?". Sư bèn làm tám phép thần biến rồi vung thân lên hư không, cách đất vài trượng rồi lại hạ xuống. Vua và các quan đều vỗ tay khen ngợi. Do đó, vua ban cho Sư một kiệu vai, để ra vào của khuyết...
(Một lần) có vị tăng hỏi: "Phật và chúng sanh ai khách, ai chủ?".
Sư dùng bài kệ đáp:
"Gái tơ chỏm tóc bạc
Báo ngươi tác giả biết
Nếu hỏi cảnh giới Phật
Long môn gặp điểm trán" [8].

Được thờ ở làng Yên Vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Yên Vệ thuộc xã Khánh Phú huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Nơi đây có đền thượng và chùa Phúc Long, là một quần thể kiến trúc có giá trị về lịch sử và văn hoá. Chùa Phúc Long thờ phật và thờ Tiên thiên Thánh Mẫu, mẹ của Giác Hải thiền sư. Đền Thượng thờ tam thánh: Giác Hải, Từ Đạo HạnhNguyễn Minh Không.

Lễ hội làng Yên Vệ hàng năm được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng giêng là ngày giỗ của Giác Hải, sau khi tế thánh có thi đấu vật.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sách Thiền uyển tập anh không cho biết tên tục, Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược cho biết ông tên húy là Nguyễn Viết Y. Song tra trong sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Ninh Bình, mục "Từ miếu", thì thấy chép: "Ðền đời Nguyễn Giác Hải ở tại xã Yên Vệ, huyện Yên Khánh (nay thuộc Ninh Bình). Thần họ Nguyễn tên Quốc Y, hiệu Giác Hải, người Giao Thủy, Hải Nam (nay là tỉnh Nam Định) sinh khoảng thời Lý Thái Tông. Nhỏ theo nghề chèo chài lưới của cha. Sau bà mẹ đem về Yên Vệ, cùng với Nguyễn Minh Không (tức Lý Quốc Sư) kết bạn, đi Tây Trúc cầu đạo. Ðược đạo rồi, bèn trở về Giao Thủy, trụ trì chùa Nghiêm Quang". Theo GS. Lê Mạnh Thát thì chùa Nghiêm Quang tức là chùa Thần Quang, còn được gọi là chùa Keo, hiện tọa lạc ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
  2. ^ Theo HT. Thích Thanh Từ,Thiền sư Việt Nam, tr. 155.
  3. ^ Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược
  4. ^ sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Ninh Bình, mục "Từ miếu
  5. ^ GS. Lê Mạnh Thát dịch là "hư huyễn".
  6. ^ Chép theo Thiền uyển tập anh. Sách An Nam chí nguyên 3 tờ 211 chép tương tự: "Thiền sư Giác Hải là Sư huyện Giao thủy, thần thông rộng lớn, biến hóa như thần. Khi sắp thị tịch, có Sao Hỏa rơi vào Thái thất. Ðến sáng, Sư mất".
  7. ^ Trước năm 25 tuổi Nguyễn Giáp Hải làm nghề đánh cá, đã có vợ con, sau mới xuất gia (theo chú thích của Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga).
  8. ^ Phiên âm Hán-Việt: Liễu dụng nữ đầu bạch/ Báo nhĩ tác giả thức / Nhược vẫn Phật cảnh giới/ Long môn tao điểm ngạch. GS. Lê Mạnh Thát chú thích: "A giác nữ đầu bạch": người con gái còn để chỏm mà đầu đã bạc. "Long môn tao điểm ngạch": theo tích tháng 3 cá chép vượt cửa Rồng (Long môn) để thành rồng, nếu không vượt nổi thì bị chấm trên trán mà trở về.