Tào Động tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tào Động tông (zh. cáo-dòng-zōng 曹洞宗, ja. sōtō-shū) là một trong năm phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc trong hệ thống Ngũ gia thất tông, là một trong hai phái Thiền tông, cùng với Lâm Tế tông còn tồn tại đến ngày nay.

Động Sơn Phổ Lợi Thiền Tự, Nơi phát tích tông tào động

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Hai chữ Tào Động được ghép từ chữ đầu của hai vị thiền sư sáng lập là Động Sơn Lương GiớiTào Sơn Bản Tịch. Ban đầu được gọi là Động Tào tông. Nhưng sau này do âm vận nghe trắc trở hay một lý do khác, đã được gọi ngược lại là Tào Động. Tuy nhiên, chữ Tào có lẽ liên quan đến ngọn núi Tào Khê hơn, nơi Huệ Năng từng hoằng pháp. Bởi vì Tào Sơn Bản Tịch pháp mạch truyền thừa chỉ 5 đời rồi dứt, Pháp mạch truyền qua các thế hệ con cháu của Vân Cư Đạo Ưng, một đệ tử đắc pháp xuất sắc khác của Động Sơn Lương Giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tông Tào Động được sáng lập khoảng vào cuối thời Đường. Nơi khai sinh ra Tông Tào Động là Động Sơn Phổ Lợi Thiền Tự, nơi Thiền Sư Động Sơn Lương Giới trụ trì và Viện Hà Ngọc do Thiền sư Tào Sơn Bản Tịch sáng lập.

Khai Tổ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới

Vào thế kỷ 11, Tào Động tông gần như bị thất truyền, khi vị tổ đời thứ 6 là Thái Dương Cảnh Huyền không có đệ tử thừa kế. Sư đã đem y bát cùng ấn tín của tông phái và nhờ một đệ tử từng tham học là Phù Sơn Pháp Viễn (nối pháp Lâm Tế Tông) đại phó sau khi tìm được người thừa kế. Đầu Tử Nghĩa Thanh sau đó tham học với Pháp Viễn và được pháp viễn truyền lại tâm pháp của Tào Động tông. Sư được coi là người thừa kế chính thức của Thái Dương Cảnh Huyền và trở thành vị tổ thứ 7.

Thời Bắc Tống, xuất hiện với sự xác lập và vươn lên mạnh mẽ của Lâm Tế tông và Vân Môn tông. Phù Dung Đạo Khải, vị tổ thứ 8, đã hình thành và xây dựng thiền viện, các lối sinh hoạt tu hành tự viện riêng cho Tào Động, nhờ thế mà tông phái này chính thức trở nên độc lập và có chổ đứng, ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong xã hội Trung Quốc..

Khi các thiền phái bắt đầu xác lập đường lối tu hành đặc trưng riêng của mình. Đại Huệ Tông Cảo đề cao pháp khán thoại đầu, tham công án và tạo thành một hệ thống tu tập Thiền thoại đầu trong Lâm Tế tông. Các đệ tử của Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải như Hoằng Trí Chính Giác, Chân Yết Thanh Liễu đã đề ra lối Thiền Mặc Chiếu, chủ trương tọa thiền để khai ngộ. Tuy bị Thiền sư Đại Huệ cực lực phản đối, nhưng nhờ trí huệ và tài hoa văn chương của mình, Thiền Sư Hoằng Trí đã khiến cho giới thiền tông phải công nhận Thiền Mặc Chiếu thành một pháp tu chính thống của Tông Tào Động. Sư có để lại Bộ Hoằng Trí Thiền Sư Quảng Lục và tác phẩm Thung Dung Lục, sau đó Thiền Sư Vạn Tùng Hành Tú đã thêm lời bình xướng vào Thong dong lục, đây là hai tác phẩm rất được xem trọng trong giới Thiền học bấy giờ.

Đến thời nhà Minh, khi Thiền tông yếu dần và nhường chổ cho Tịnh Độ Tông. Các Thiền sư trong Tào Động tại Trung Quốc như Trạm Nhiên Viên Trừng, Vô Minh Tuệ Kinh và các đệ tử như Bác Sơn Nguyên Lai, Thụy Bạch Minh Tuyết, Hối Đài Nguyên Cảnh... đã nỗ lực trong việc hoằng pháp và làm sống dậy tinh thần của Tông phái. Thời kỳ này có nhiều bộ ngữ lục quan trọng ra đời như Động Thượng Cổ Triệt của Thiền Sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Tham Thiền Cảnh Ngữ của Bác Sơn Nguyên Lai, Trạm Nhiên Thiền Sư Ngữ Lục của Trạm Nhiên Viên Trừng..., nội dung nhằm nêu lên cương yếu và Tông chỉ của Tông Tào Động.

Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật Bản Đạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄) (ja. dōgen kigen) đã sang Trung Quốc tu thiền, và đắc pháp với thầy Thiên Đồng Như Tịnh. Sư đã truyền bá tông phái mạnh mẽ khắp Nhật Bản với chủ trương theo phương pháp Chỉ quán đã tọa, tức chỉ cần tọa thiền là đủ, và xu hướng hòa hợp giữa Thiền công án và tọa thiền. Với phong cách dản dị, xa hoa quyền thế, lối thiền này đã tạo sức hút với các tầng lớp bình dân và đã tạo được tiếng vang lớn trong xã hội Nhật Bản. Nhiều thiền viện, chùa chiền đã ra đời cùng đông đảo chư tăng và tín đồ với nhiều chi phái. Với các thế hệ Thiền Sư xuất sắc như Cô Vân Hoài Trang, Triệt Thông Nghĩa Giới, Oánh Sơn Thiện Cẩn, Nga Sơn Thiều Thạc... Và thời kỳ hiện đại có Thiền Sư Kōdō Sawaki nổi danh và đệ tử là Taisen Deshimaru đã truyền bá Thiền xây dựng cơ sở hoằng pháp ở nước Pháp và lan rộng ra nhiều nước Phương Tây. Hiện nay tổ đình chính của Tông Tào Động tại Nhật Bản là Chùa Vĩnh Bình(Eihei-ji) và Chùa Tỗng Trì(Soji-ji).

Chư tăng Tào Động tông Nhật Bản thực hành Tọa Thiền

Đặc Điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nét đặc sắc trong phong cách giáo hóa của Tông Tào Động đó là sự viên dung, cẩn mật trong công phu tu tập hàng ngày, nhẹ nhàng,vi tế như người nông dân quanh năm chăm lo ruộng lúa, khác với phong cách đánh hét táo bạo của Tông Lâm Tế được ví như tướng quân chinh chiến nơi sa trường. Trong Nhân Thiên Nhãn Mục, tông này được tôn xưng là Tào Động tế mật. Trong Pháp Nhãn Thiền Sư Thập Quy Tụng: “Tào Động là xướng họa làm dụng”, tức là cơ phong một hỏi một đáp, miên mật qua lại không gián đoạn. Ngoài ra, nét riêng biệt là các thiền sư tào động thường gọi riêng một đệ tử vào thất kín để truyền pháp, chỉ dạy. Phương pháp này còn gọi là Độc tham,

Thiền Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tông chỉ của Tông Tào Động đã được vị Thủy Tổ là Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên khái quát trong tác phẩm Tham Đồng Khế và qua tác phẩm Bảo Cảnh Tam Muội Ca mà Thiền Sư Vân Nham truyền cho Thiền Sư Động Sơn. Đến thời khai tổ Động Sơn đã hình thành thuyết Ngũ Vị Chính Thiên, Ngũ vị Hiển Quyết dùng để tiếp dẫn hậu học, nêu lên cơ phong của Tông Phái. Sau này, đệ tử là Thiền sư Tào Sơn Bản Tịch đã bổ sung thêm Ngũ vị Quân Thần để làm rõ thuyết Ngũ Vị của thầy.

Ngũ vị Chính Thiên:[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyết Ngũ vị Động Sơn được dựa trên tư tưởng Chính thiên hồi hổ trong tác phẩm Tham Đồng Khế của Thiền Sư Thạch Đầu để dựng lên.

Gồm có 5 vị là Chính Trung Thiên, Thiên Trung Chính, Chính trung lai. Kiêm trung đáo và Kiêm Trung Chí.

Trong đó, Chính thể hiện cho thể tính chân như, tuyệt đối, tịch lặng, còn Thiên chỉ cho sự sai biệt, sinh diệt trong các pháp.

Dùng lý chính thiên hồi hỗ để phát sinh sự sai biệt trong Ngũ vị, từ đó hiện bày rõ cái đức dụng của Pháp qua các quá trình khai ngộ.

Ngũ vị Hiển Quyết[sửa | sửa mã nguồn]

Dùng để bổ sung cho Ngũ Vị, gồm 5 giai đoạn tu hành tới chứng ngộ. Gồm Hướng, Phụng, Công, Cộng Công, Công công. Ngũ vị này nhằm nêu rõ thứ bậc công phu tu hành của người học, tức trước hết là qui hướng, kế đến là thừa phụng và cuối cùng là được công công bất cộng

- Hướng: Ngài Động sơn nói: Khi ăn cơm thì nghĩ gì? Sư lại nói: Đắc lực nên quên no, thôi ăn lại chẳng đói. Hướng nghĩa là hướng tới. Nhưng trước hết phải biết có, nếu trước chẳng biết có, thì không biết hướng tới đâu, vả lại, trong động tĩnh hàng ngày không được quên giây phút nào. Nếu chân chính và chuyên nhất hướng tới, thì chẳng còn thì giờ rảnh rỗi để nghĩ tới đói.

-Phụng: Sư nói: Khi trái nghịch thì sao? Lại nói: Chỉ biết có giầu sang, cô phụ người bản lai. Phụng nghĩa là vâng thờ. Sau hướng tiếp đến dùng phụng, cũng như vâng thờ bậc trưởng thượng, thì trước hết phải qui kính rồi sau mới thừa phụng, nếu trái nghịch(tham đắm ngoại trần mà trái với việc hướng thượng) thì chẳng thể thừa phụng

-Công: Sư nói: Khi buông cái bừa thì nghĩ gì?. Lại nói: Buông tay ngồi thanh thản, nhàn tản mây trắng bay. Cầm bừa là hướng tới thừa phụng; buông bừa là chẳng hướng tới thừa phụng. Nhờ có cái công hướng tới thừa phụng từ trước, nên đến đây bỗng quên đi, cho nên bảo là buông bỏ bừa xuống. Câu sau biểu thị khế nhập chính vị.

-Cộng công: Sư nói: Chẳng được sắc. Lại nói: Phấn trắng khó giấu đường, Trường an chẳng ở lâu. Cộng công nghĩa là các pháp cùng khởi, cho nên gọi là cộng. Ngài Động sơn nói không được sắc, nghĩa là vị trước còn một sắc thì các pháp đều ẩn, vị này thì một sắc đã mất hết nên các pháp đều hiện, một sắc cũng không thể được lại nữa.

- Công Công: Sư nói: Chẳng cộng. Lại nói: Lẫn lộn chẳng kiêng kị, ngoài đây lại cầu gì? Công công nghĩa là công này sâu xa hơn công của vị trước, cho nên gọi là Công công. Do vị trước có cộng nên vị này chẳng cộng, pháp chẳng thể được mà phi pháp cũng chẳng thể được, lí sự hòa nhập tuyệt không dấu vết, đó là chỗ cùng tột của Phật đạo. Tuy nhiên, vẫn còn gọi Công là bởi vì việc hướng thượng cũng thuộc sức người tạo ra.

Ngũ Vị Quân Thần[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch dùng nghĩa Quân(vua), Thần(bầy tôi) để thuyết minh Ngũ Vị.

1. Quân(vua): Diệu đức tràn hoàn vũ, sáng tỏ khắp thái hư. Chỉ cho cõi hư không xưa nay vốn chẳng có một vật gì, dụ cho Chính vị, tương đương với Chính trung lai trong Chính thiên ngũ vị và với Công trong Công huân ngũ vị.

2. Thần(bầy tôi): Linh cơ hoằng đạo Thánh, chân trí lợi quần sinh. Vâng mệnh vua, mở mang Thánh đạo, hiển hiện tất cả muôn tượng sum la: Chỉ cho cõi sắc thiên hình vạn tượng, dụ cho Thiên vị, tương đương với Thiên trung chí trong Chính thiên ngũ vị và với Cộng công trong Công huân ngũ vị. Đây là nhị nguyên âm và dương, bản giác và bất giác đối lập nhau.

3. Thần hướng quân (bầy tôi hướng lên vua): Không rơi vào ngả khác, chú tâm trông Thánh dung. Bầy tôi chuyên vâng thờ vua, trung thành không phân giai cấp sai biệt; chỉ cho việc bỏ sự vào lí, tương đương với Chính trong thiên hướng thượng hoàn diệt và với Phụng trong Công huân ngũ vị. Chính trong thiên ở đây tức là Chính vị đem tất cả sự tướng sai biệt qui về thế giới bình đẳng vô sai biệt.

4. Quân thị thần(vua đối với bầy tôi): Vẻ mặt tuy không động, rạng rỡ vốn chẳng thiên. Vua đối với bầy tôi công bằng không thiên vị, thương quí tất cả, tức là từ trong lí đi vào sự, tương đương với Thiên trong chính hướng hạ duyên khởi và với Hướng trong Công huân ngũ vị.

5. Quân thần đạo hợp(đạo vua tôi hợp nhất): Dung nhập chẳng trong ngoài, hòa đồng không trên dưới. Đạo vua tôi hòa hợp thì thiên hạ thái bình, nghĩa là ngầm ứng hợp với mọi duyên mà không rơi vào các ngả, tương đương với Kiêm trung đáo trong Chính thiên ngũ vị và với Công công trong Công huân ngũ vị. Tức là động tĩnh hợp nhất, sự lí bất nhị, là vị của đạo Đại giác cùng tột, chẳng chính chẳng thiên vậy.

Ba loại sấm lậu[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc ngài Tào Sơn rời thầy đi hoằng pháp, Thiền Sư Động Sơn trao yếu chỉ tông môn và nói ba loại sấm lậu để phân biệt chân ngụy vào thời mạt pháp khi chúng sinh càn tuệ, cơ tính không hoạt bát.

+ Kiến sấm lậu, tức căn cơ không lìa địa vị, đọa lạc tại biển độc

+Tình sấm lậu, tức bị kẹt tại thủ xả, chỗ thấy thiên khô;

+ Ngữ sấm lậu, tức chuyên nghiên cứu ngữ cú của Tổ sư mà đánh mất Tông chỉ, trước sau mờ mịt

Thiền Sư Động Sơn lại nói: Trí ô trọc của người học lưu chuyển, tất cả chẳng ngoài ba loại này, ông cần phải biết rõ!

Tông Tào Động tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp tượng chư tổ truyền thừa Tông Tào Động tại Việt Nam

Vào thế kỷ thứ 17, Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt(通覺水月) sang Trung Quốc tham thiền với Tổ Sư đời thứ 30 Tông Tào Động là Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo(一 句 知 教) ở Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự, núi Phụng Hoàng, Hồ Châu và được tổ ấn chứng truyền đăng Tào Động Chính Tông. Sau 6 năm tu hành, sư khai ngộ. Được thầy ấn chứng truyền pháp đem Tào Động Tông truyền sang Việt Nam. Sư từng giáo hóa Thiền khắp đất Bắc và kiến lập tùng lâm để độ chúng tham thiền, liễu ngộ.Khiến giáo pháp được phát triển rực rỡ một thời. Sư được môn đệ tôn xưng là sơ tổ tông tào động tại việt nam.

Sau khi sư viên tich, mạch pháp được truyền cho đệ tử xuất sắc là Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn. Sư Tông Diễn đã kế thừa và phát huy Thiền Tào Động một cách xuất sắc. Sư nổi danh trong lịch sử với kỳ tích giúp phật giáo bấy giờ thoát nạn bị diệt vong khi vua Lê Hi Tông ra lệnh phá bỏ chùa chiền, đuổi hết tăng ni về núi ở. Sư đã khuyên vua, giúp vua sám hối sai lầm và bãi bỏ lệnh cấm của mình. Sư Tông Diễn được vua kính trọng phong hiệu là Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục Thân Bồ Tát Đại Thừa và thường được vua mời giảng pháp trong cung.

Các đời truyền Thừa của Tông Tào Động đều sản sinh ra nhiều vị thiền sư xuất sắc trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nhiều vị được phong làm Quốc Sư, Tăng Cương, Tăng Thống lãnh đạo Phật giáo.

Thời cận đại, Hòa Thượng thiền gia Pháp chủ Thích Mật Ứng và Hòa Thượng Đệ Nhất pháp chủ giáo hội phật giáo Thích Đức Nhuận đã làm rạng danh Phật giáo trong lòng dân tộc Việt Nam qua tư tưởng cứu nước, cứu đời, lợi ích an dân, phật giáo nhập thế.

Tu Hành[sửa | sửa mã nguồn]

Kế thừa truyền thống tu hành của chư tổ, các thiền sư thiền phái này chú trọng hướng dẫn người học tham thiền, tọa thiền để minh tâm kiến tính, liễu thoát sinh tử.

Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính đã khái quát tư tưởng Thiền qua các tác phẩm Bát Nhã Trực chỉ và Đề Cương Kinh Pháp Hoa.

Thiền phái này về sau có xu hướng hòa nhập với Tư Tưởng Tịnh Độ, chú trọng cả tu thiền lẫn tu tịnh. Trong bài pháp của Thiền Sư Đạo Nguyên Thanh Lãng, sư khuyên người tu vừa chuyên tâm tu thiền định vừa niệm Phật để cầu vãn sinh.

Do thời chiến tranh loạn lạc, binh đao, đất nước bị xâm lược hơn 150 năm. Thiền phái này đã thất truyền về phương pháp tu ngộ của Thiền Tông. Đa số những vị tăng, ni ngày nay theo Tông Tào Động đều chỉ là theo danh nghĩa, còn thực chất tu theo Pháp môn Tịnh Độ.

Ảnh Hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền phái Tào Động từng ảnh hưởng rộng khắp xứ Bắc với nhiều ngôi tự viện và người tu hành có lúc lên tới hàng trăm người.

Các Tự Viện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa Hòe Nhai, tổ đình của Tông Tào Động tại Việt Nam
    Chùa Hòe Nhai, Hồng Phúc Thiền tự ở Ba đình, Hà Nội: Nơi phát triển Tông Tào Động tại Việt Nam
  • Chùa Nhẫm Dương, Kinh Môn, Hải Dương: nơi phát tích của Thiền phái Tào Động. Thiền Sư Thông giác Thủy Nguyệt từng trụ trì nơi đây
  • Chùa Trấn Quốc, Quảng Bá, Hàm Long, Chùa Cầu Đông , Chùa Đồng Đắc, Ngọc Quán(Cót)...

Pháp Kệ[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp phái do Thiền Sư Tử Mai Tịnh Chu ở Núi An Kiết, Trung Quốc, pháp tử của Thiền sư Thụy Bạch Minh Tuyết sáng lập. Dùng để đặt pháp hiệu cho các thế hệ đệ tử:

Tịnh Trí Thông Tông

Từ Tính Hải Khoan

Giác Đạo Sinh Quang

Chính Tâm Mật Hạnh

Nhân Đức Vi Lương

Tuệ Đăng Phổ Chiếu

Hoằng Pháp Vĩnh Truyền

Truyền Thừa[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền Thừa Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

1/ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价 (807-869)

2/ Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch 曹山本寂 (840-901)

3/ Thiền Sư Tào Sơn Huệ Hà
4/ Thiền Sư Lộc Môn Xử Chân
3/ Thiền Sư Việt Châu Kiều Phong

2/ Thiền sư Long Nha Cư Độn

2/ Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng 雲居道膺 (?-902)

3/ Thiền Sư Đồng An Đạo Phi 同安道丕

4/ Thiền Sư Đồng An Quán Chí 同安觀志

5/ Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán 梁山緣觀

6/ Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền 大陽警玄 (943-1027)

7/ Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh 投子義青 (1032-1083)

8/ Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải 芙蓉道楷 (1043-1118)

9/ Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần 丹霞子淳 (1064-1119)

10/ Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác 宏智正覺 (1091-1157)
11/ Thiền Sư Tự Đắc Huệ Huy 自得慧暉 (1097-1183)
12/ Thiền Sư Minh Cực Huệ Tộ
13/ Thiền Sư Đông Cốc Minh Quang
14/ Thiền Sư Trực Ông Đức Cử
15/ Thiền Sư Đông Minh Huệ Nhật --> Truyền Tào Động Tông-Phái Hoằng Trí sang Nhật
15/ Thiền Sư Vân Ngoại Vân Tụ
16/ Thiền Sư Đông Lăng Vĩnh Dư --> Truyền Tào Động Tông-Phái Hoằng Trí sang Nhật
10/ Thiền Sư Chân Yết Thanh Liễu 真歇清了 (1090-1151)
11/ Thiền Sư Thiên Đồng Tông Giác 天童宗珏 (1091-1162)
12/ Thiền Sư Tuyết Đậu Trí Giám 雪竇智鑑 (1105-1192)
13/ Thiền Sư Thiên Đồng Như Tịnh 天童如淨 (1162-1228)
14/ Thiền Sư Đạo Nguyên Hi Huyền 日本道元 (1200-1253)-> Truyền Tào Động Tông Nhật Bản

9/ Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác 鹿門自覺 (? - 1117) [1]

10) Thiền Sư Phổ Chiếu Nhất Biện 普照一辯 (1081-1149)

11) Thiền Sư Đại Minh Tăng Bảo 靈巖僧寶 (1114-1171)

12) Thiền Sư Vương Sơn Tăng Thế 玉山師體 (?-?)

13) Thiền Sư Tuyết Nham Như Mãn 雪巖慧滿 (?- 1206)

14) Thiền Sư Vạn Tùng Hành Tú 萬松行秀 (1166-1246)

15) Thiền Sư Tuyết Đình Phúc Dụ 雪庭福裕 (1203-1275)

16) Thiền Sư Linh Ản Văn Thái 靈隱文泰 (?-1289)

17) Thiền Sư Hoàn Nguyên Phúc Ngộ 還源福遇 (1245-1313)

18) Thiền Sư Thuần Chuyết Văn Tài 淳拙文才 (1273-1352)

19) Thiền Sư Tùng Đình Tử Nghiêm 松庭子嚴(1323-1392)

20) Thiền Sư Ngưng Nhiên Liễu Cải 凝然了改 (1335-1421)

21) Thiền Sư Diện Tông Bản --> Tào Động Tông Hàn Quốc

21) Thiền Sư Câu Không Khế Bân 俱空契斌 (1383-1452)

22) Thiền Sư Vô Phương Khả Tùng 無方可從 (1420-1483)

23) Thiền Sư Nguyệt Chu Văn Tải 月舟文載 (1452-1524)

24) Thiền Sư Đại Chương Tông Thư 宗鏡宗書 (1500-1567)

25) Thiền Sư Uẩn Không Thường Trung 蘊空常忠 (1514-1588)

26/ Thiền Sư Vô Minh Tuệ Kinh 無明慧經(1548-1618) -> Thọ Xương Pháp Phái
27/ Thiền Sư Bác Sơn Nguyên Lai (dòng Bác Sơn) 博山元來 (博山糸) (1575-1630)
28/ Thiền Sư Tuyết Quang Đạo Ngân (1585-1637)
28/ Thiền Sư Tung Ngũ Đạo Mật (1588- 1658)
29/ Thiền Sư Nam Am Đại y (1617- 1683)
30/ Thiền Sư Tử Thành Truyền Toại (1632- 1660)
30/ Thiền Sư Nghĩa Vân Hưng Triệt (1635- ?)
30/ Thiền Sư Cổ Nham Hưng Hoàn
30/ Thiền Sư Đồng Truyền Cầu Dục (1638- 1685)
29/ Thiền Sư Linh Thụy Hoằng Đàm (1602- 1671)
29/ Thiền Sư Sơn Dữu Hoằng Năng
29/ Thiền Sư Linh Diễm Hoằng Chúc (1610- 1683)
29/ Thiền Sư Phá Nham Hoằng Kế (1605- 1688)
30/ Thiền Sư Từ Hiền Hưng Kỳ
28/ Thiền Sư Không Ẩn Tông Bảo (1600- 1661)
27/ Thiền Sư Hối Đài Nguyên Cảnh (1577-1630)
28/ Thiền Sư Giác Lãng Đạo Thịnh
29/ Thiền Sư Khoát Đường Đại Văn
30/ Thiền Sư Tâm Việt Hưng Thù --> Truyền Tào Động Tông sang Nhật
29/ Thiền Sư Trúc Am Đại Thành.
27/ Thiền Sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền(dòng Cổ Sơn) 鼓山元賢 (鼓山糸) (1578-1657)
28/ Thiền Sư Duy Tĩnh Đạo An (1617- 1688)
28/ Thiền Sư Vi Lâm Đạo Bái
29/ Thiền Sư Hằng Đào Đại Tâm (1652- 1728)
30/ Thiền Sư Biến Chiếu Hưng Long
31/ Thiền Sư Thanh Thuần Pháp Hậu
32/ Thiền Sư Đông Sơn Giới Sơ
33/ Thiền Sư Đạo Nguyên Nhất Tín
34/ Thiền Sư Liễu Đường Đỉnh Triệt

25) Thiền Sư Huyễn Hữu Thường Thuận 幻休常潤 (?-1585)

26) Thiền Sư Từ Chu Phương Niệm 慈舟方念 (?-1594)

27) Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng 雲門圓澄 (1561-1626)

28) Thiền Sư Thạch Vũ Minh Phương (1593-1648)

29) Thiền Sư Thiên Ngu Tịnh Bảo (1609- 1675)
29) Thiền Sư Viễn Môn Tịnh Trụ (1601- 1654)
29) Thiền Sư Vị Trung Tịnh Phù

28) Thiền Sư Tam Nghi Minh Vu (1599-1665)

29) Thiền Sư Đa Phúc Tịnh Khải (?- 1674)
29) Thiền Sư Tam Tật Tịnh Phủ (?- 1660)

28) Thiền Sư Nhĩ Mật Minh Phục (1591-1642)

28) Thiền Sư Thụy Bạch Minh Tuyết 瑞白明雪 (1584-1641)

29) Thiền Sư Phan Quang Tịnh Xán (1600-1658)

29) Thiền SƯ Cửu Mặc Đại Âm (1593- 1642)

29) Thiền Sư Cô Nhai Tịnh Thông (1591- 1647)

29) Thiền Sư Nguyên Khiết Tịnh Oánh (1612- 1672)

29) Thiền Sư Vân Tông Tịnh Nột (1610- 1673)

29) Thiền Sư Ban Nhã Tịnh Lữ (1607-1669)

29) Thiền Sư Phá Ám Tịnh Đăng

30) Thiền Sư Cổ Tiều Trí Tiên

29) Thiền Sư An Kiết Tử Mai Tịnh Chu (?-?)

30) Thiền Sư Phượng Hoàng Nhất Cú Tri Giáo 一 句 知 教 (?-?)

Truyền Thừa Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Miền Bắc

31. Thiền Sư Thông Giác Thủy Nguyệt, Đạo Nam Quốc Sư [2] (1637 - 1704)

32. Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn, Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục Thân Bồ Tát Đại Thừa (1640 - 1711)

33. Thiền Sư Từ Sơn Hành Nhất (1681-1737)

34. Thiền Sư Tính Chúc Đạo Chu (1698- 1775)

35. Thiền Sư Hải Điện Mật Đa

36. Thiền Sư Khoan Dục Phổ Chiếu

37. Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính

38. Thiền Sư Đạo Minh Quang Lịch

39. Thiền Sư Gíac lâm Minh Liễu

40. Thiền Sư Quang Lư Thích Đường

41. Thiền Sư Vô Tướng Chính Bình

42. Thiền Sư Tâm Nghĩa Nhân Từ

43. Thiền Sư Huyền Cơ Mật Ứng, Thiền Gia pháp chủ (1889-1957)

44. Thiền Sư Đức Nhuận Thanh Thiệu, Đệ Nhất Pháp Chủ GHPGVN (1897-1993)

Miền Trung

29. Thiền Sư Thạch Liêm Đại Sán.

30. Quốc Sư Hưng Liên

Miền Nam

47. Thiền Sư Duy Lực Giác Khai(Thích Duy Lực)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong nhiều sách thiền phả hệ ở Trung Quốc như Phật Tổ Đạo Ảnh hay Kế Đăng Lục của Việt Nam đều ghi Lộc Môn Tự Giác là đệ tử đời thứ năm của Đơn Hà Tử Thuần, nối pháp Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Thiên Đồng Như Tịnh hơn 100 năm thì sao có thể là đệ tử Như Tịnh được? Rất nhiều chùa Tào Động ở Ngoài Bắc Việt Nam vẫn còn nhầm lẫn về thế hệ tông phái, viết dư 5 đời từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh mà không khảo cứu biên niên kỹ càng.
  2. ^ Những vị không có tư cách thiền sư sẽ không được ghi vào đây. 1) Phải là người tu theo tông chỉ, phương pháp đốn ngộ của Thiền Tông. 2) Đã minh tâm kiến tính, triệt ngộ 3) Được thầy đã kiến tính ấn chứng và truyền pháp(có thể bỏ qua)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Động Thượng Cổ Triệt, Quyển Thượng: Thiền Sư Vĩnh Giác Nguyên Hiền sáng tác, đệ tử Thiền Sư Vi Lâm Đạo bái biên soạn
  • Tào Động Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục- Thiền Sư Đạo Nguyên Thanh Lãng biên soạn, sa môn Thích Tiến Đạt dịch.
  • Thiền Uyển Kế Đăng Lục- Thiền Sư Như Sơn soạn, Thích Thiện Phước dịch
  • Pháp Nhãn Thiền Sư Thập Quy Tụng, Pháp Nhãn Văn Ích Thiền Sư soan.
  • Động Sơn Thiền Sư Ngữ Lục, môn đệ Thiền Sư Động Sơn soạn.
  • Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán


  1. ^ Trong nhiều sách thiền phả hệ ở Trung Quốc như Phật Tổ Đạo Ảnh hay Kế Đăng Lục của Việt Nam đều ghi Lộc Môn Tự Giác là đệ tử đời thứ năm của Đơn Hà Tử Thuần, nối pháp Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Thiên Đồng Như Tịnh hơn 100 năm thì sao có thể là đệ tử Như Tịnh được? Rất nhiều chùa Tào Động ở Ngoài Bắc Việt Nam vẫn còn nhầm lẫn về thế hệ tông phái, viết dư 5 đời từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh mà không khảo cứu biên niên kỹ càng.
  2. ^ Những vị không có tư cách thiền sư sẽ không được ghi vào đây. 1) Phải là người tu theo tông chỉ, phương pháp đốn ngộ của Thiền Tông. 2) Đã minh tâm kiến tính, triệt ngộ 3) Được thầy đã kiến tính ấn chứng và truyền pháp(có thể bỏ qua)