Tào Động tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Dị Thiền Sư

Tào Động tông (zh. cáo-dòng-zōng 曹洞宗, ja. sōtō-shū) là một trong năm phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc trong hệ thống Ngũ Gia Thất Tông được hai vị Thiền sư sáng lập là Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch (曹山本寂). Người ta ghép hai chữ đầu của tên hai vị này và gọi là Tào Động. Tào Động tông cùng với Lâm Tế là hai thiền phái còn tồn tại và được chúng tu tập cho đến ngày nay. Pháp mạch Tào Động được truyền bá từ Trung Quốc sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và vẫn còn phát triển ngày nay. Đặc biệt, Tào Động tông tại nhật bản đã phát triển tông phái rất mạnh và truyền sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ.

Nét đặc sắc trong phong cách giáo hóa của Tông Tào Động đó là sự viên dung , cẩn mật trong công phu tu tập hàng ngày, nhẹ nhàng,vi tế như người nông dân quanh năm chăm lo ruộng lúa, khác với phong cách đánh hét táo bạo của Tông Lâm Tế được ví như tướng quân chinh chiến nơi sa trường.

Động Sơn Ngũ Vị gồm Ngũ Vị Hiển Quyết và Ngũ Vị Chính Thiên , cùng với Ngũ Vị Quân Thần là một trong những tư tưởng thiền lý tạo nên nét đặc sắc của Tông này, Ngoài ra còn có Tham Đồng Khế của Thiền Sư Thạch Đầu Hy Thiên và Bảo cảnh Tam muội Ca của Thiền Sư Vân Nham Đàm Thịnh.

Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật là Đạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄) (ja. dōgen kigen) đưa tông này qua Nhật và Tào Động trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Trong tông Tào Động tại Nhật, phương pháp Độc tham (ja. dokusan) – một trong những thành phần tu học quan trọng của Thiền tông – đã thất truyền từ thời Minh Trị (ja. meiji). Đặc biệt ở Nhật, phương pháp Thiền Mặc Chiếu của Tông Tào Động vốn đã thất truyền ở Trung Quốc được các thiền sư Tào Động tại Nhật thực hành rất mạnh mẽ.

Đặc điểm của Tông Tào Động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tìm ra một cách sâu sắc rằng tất cả chúng sinh đều có phật tính bình đẳng thanh tịnh như chư phật và đều có thể đạt được bản tâm thanh tịnh ấy.
  • Nhờ công phu tọa thiền quán chiếu ánh sáng trí tuệ của Phật Tính sẽ được phát khởi.
  • Hành giả dung nhập thiền lý và công phu là một.
  • Hành trì nghiêm mật là tôn chỉ được cụ thể hóa trong sinh hoạt hằng ngày
  • Luôn giữ vững một lập trường phật pháp đúng đắn, không sa vào con đường tiêu cực, ti tiện.
  • Xả bỏ chấp ngã,ham cầu . Lấy ý chí cầu đạo giải thoát làm trọng.
  • Xa lánh không thân cận nơi quyền quý, giàu sang. Sống một cuộc đời chân thật chất phác.
  • Lấy tín tâm làm trọng, thực hành với thái độ vô sở cầu, vô sở đắc.
  • Tu với chứng ngộ là một, không hai không khác(Tu Chứng Nhất Như). Sau khi đã ngộ vẫn tiếp tục tu hành(Hậu Ngộ Tu Hành).
  • Bất cứ lúc nào cũng truyền pháp chính yếu của chư phật. Giúp người thoát khỏi đau khổ, trầm luân.
  • Tọa thiền với tâm tinh tấn, nổ lực công phu. Ngồi thiền mà không cần chủ đề, phương thức(chỉ quán đã tọa).
  • Hàng ngày thực hành công phu là chân thật báo ơn tổ phật

Tông Tào Động tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ thứ 17, Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt(通覺水月) sang Trung Quốc tham thiền với Tổ Sư đời thứ 30 Tông Tào Động là Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo(一 句 知 教) ở Nhân Vương Hộ Quốc Thiền Tự, núi Phụng Hoàng, Hồ Châu và được tổ ấn chứng. Sau 6 năm tu hành ở đất Bắc, sư về nước và truyền bá Thiền phái Tào Động ở Miền Bắc vanh danh một thời. Sau sư truyền pháp cho đệ tử xuất sắc nhất là thiền sư Tông Diễn Chân Dung, sư không những là bậc thượng căn pháp khí, nối truyền đèn thiền của thầy là Thiền sư Thủy Nguyệt mà còn xiển dương chính pháp, giúp Phật Pháp Việt Nam lúc bấy giờ thoát khỏi nạn bị áp bức, bị hạn chế phát triển, triều đình đuổi tăng ni phải rời nơi dân cư thành thị về núi rừng. Ngài được phong là quốc sư Đại tuệ, Nhục Thân Bồ Tát.

Các Thiền Sư Tào Động Việt Nam chủ trương tham thiền, tọa thiền , giáo hóa người học, Thiền phái phát triển mạnh trong thế kỷ thứ 17, 18. Các thiền sư Tào Động Việt Nam đều là những vị quốc sư, tăng cương, tăng thống lãnh đạo Phật giáo. Đến giữa thế kỷ 19, thiền phái bị pha tạp với Tịnh Độ Tông. Các sư dần chuyển sang tu tịnh độ, về danh nghĩa là Tào Động.

Tư tưởng Thiền Tông được vị tổ đời thứ 37 là Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính khái quát qua tác phẩm Bát Nhã Trực Chỉ, Pháp Hoa Đề Cương. Đây là những tác phẩm có giá trị thiền học minh chứng cho những thời kỳ phát triển của Thiền Tông Việt Nam.

Kệ truyền pháp Tào Động Tông Việt Nam, pháp phái do Thiền Sư Tịnh Chu Tử Mai ở An Kiết, đời thứ 29 sáng lập

Tịnh Trí Thông Tông

Từ Tính Hải Khoan

Giác Đạo Sinh Quang

Chính Tâm Mật Hạnh

Nhân Đức Di Lương

Tuệ Đăng Phổ Chiếu

Hoằng Pháp Vĩnh Trường

Thời cận đại, Thiền Gia pháp Chủ Thích Mật Ứng và Đệ Nhất Pháp Chủ Thích Đức Nhuận là các thế hệ của Tông Tào Động Việt Nam đã làm rạng danh Phật Giáo qua những công hạnh tu hành và tư tưởng Hộ Quốc An Dân, Cứu nước giúp đời.

Các chùa như Hòe Nhai, Nhẫm Dương, Quảng Bá, Trấn Quốc, Ngọc Quán... đều thuộc tông Tào Động .

Truyền Thừa[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền Thừa Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

1/ Thiền Sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价 (807-869)

2/ Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch 曹山本寂 (840-901) -> 3/ Tào Sơn Huệ Hà

2/Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng 雲居道膺 (?-902)

3/ Thiền Sư Đồng An Đạo Phi 同安道丕

4/ Thiền Sư Đồng An Quán Chí 同安觀志

5/ Thiền Sư Lương Sơn Duyên Quán 梁山緣觀

6/ Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền 大陽警玄 (943-1027)

7/ Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh 投子義青 (1032-1083)

8/ Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải 芙蓉道楷 (1043-1118)

9/ Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần -> 10 Hoằng Trí Chính Giác -> 11 Tự Đắc Huệ Huy

-> 10 Chân Yết Thanh Liễu -> 11 Thiên Đồng Tông Giác -> 12 Tuyết Đậu Trí Giám -> 13 Trường Ông Như

Tịnh -> Đạo Nguyên Hy Huyền -> Tào Động Tông Nhật Bản

9/ Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác 鹿門自覺 (? - 1117) [1]

10) Thiền Sư Phổ Chiếu Nhất Biện 普照一辯 (1081-1149)

11) Thiền Sư Đại Minh Tăng Bảo 靈巖僧寶 (1114-1171)

12) Thiền Sư Vương Sơn Tăng Thế 玉山師體 (?-?)

13) Thiền Sư Tuyết Nham Như Mãn 雪巖慧滿 (?- 1206)

14) Thiền Sư Vạn Tùng Hành Tú 萬松行秀 (1166-1246)

15) Thiền Sư Tuyết Đình Phúc Dụ 雪庭福裕 (1203-1275)

16) Thiền Sư Linh Ản Văn Thái 靈隱文泰 (?-1289)

17) Thiền Sư Hoàn Nguyên Phúc Ngộ 還源福遇 (1245-1313)

18) Thiền Sư Thuần Chuyết Văn Tài 淳拙文才 (1273-1352)

19) Thiền Sư Tùng Đình Tử Nghiêm 松庭子嚴(1323-1392)

20) Thiền Sư Ngưng Nhiên Liễu Cải 凝然了改 (1335-1421)

21) Thiền Sư Câu Không Khế Bân 俱空契斌 (1383-1452)

22) Thiền Sư Vô Phương Khả Tùng 無方可從 (1420-1483)

23) Thiền Sư Nguyệt Chu Văn Tải 月舟文載 (1452-1524)

24) Thiền Sư Đại Chương Tông Thư 宗鏡宗書 (1500-1567)

25) Thiền Sư Uẩn Không Thường Trung (1514-1588) -> 26 Vô Minh Tuệ Kinh(1548-1618) -> Thọ Xương Pháp Phái

25) Thiền Sư Huyễn Hữu Thường Thuận 幻休常潤 (?-1585)

26) Thiền Sư Từ Chu Phương Niệm 慈舟方念 (?-1594)

27) Thiền Sư Trạm Nhiên Viên Trừng 雲門圓澄 (1561-1626)

28) Thiền Sư Thụy Bạch Minh Tuyết 瑞白明雪 (1584-1641)

29) Thiền Sư Tử Mai Tịnh Châu (?-?)

30) Thiền Sư Nhất Cú Tri Giáo 一 句 知 教 (?-?)

Truyền Thừa Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Miền Bắc

31. Thiền Sư Thông Giác Thủy Nguyệt , Đạo Nam Quốc Sư [2] (1637 - 1704)

32. Thiền Sư Chân Dung Tông Diễn, Đại Tuệ Quốc Sư, Nhục Thân Bồ Tát Đại Thừa (1640 - 1711)

33. Thiền Sư Từ Sơn Hành Nhất (1681-1737)

34. Thiền Sư Tính Chúc Đạo Chu (1698- 1775)

35. Thiền Sư Hải Điện Mật Đa

36. Thiền Sư Khoan Dục Phổ Chiếu

37. Thiền Sư Thanh Đàm Minh Chính

38. Thiền Sư Giác Lâm Minh Liễu

39. Thiền Sư Đạo Minh Quang Lịch

40. Thiền Sư Quang Lư Thích Đường

41. Thiền Sư Vô Tướng Chính Bình

42. Thiền Sư Tâm Nghĩa Nhân Từ

43. Thiền Sư Huyền Cơ Mật Ứng, Thiền Gia pháp chủ (1889-1957)

44. Thiền Sư Đức Nhuận Thanh Thiệu, Đệ Nhất Pháp Chủ GHPGVN (1897-1993)

45. Thiền Sư Tâm Tông Nhân Huyền

Miền Trung

29. Thiền Sư Thạch Liêm Đại Sán.

30. Quốc Sư Hưng Liên

Miền Nam

47. Thiền Sư Duy Lực Giác Khai( Thích Duy Lực)


Tham Khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Tào Động Nam Truyền Tổ Sư Ngữ Lục- Thiền Sư Đạo Nguyên Thanh Lãng biên soạn, sa môn Thích Tiến Đạt dịch.
  • Thiền Uyển Kế Đăng Lục- Thiền Sư Như Sơn soạn, Thích Thiện Phước dịch
  • Lịch Sử Thiền Tông Trung Quốc
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán
  1. ^ Trong nhiều sách thiền phả hệ ở Trung Quốc như Phật Tổ Đạo Ảnh hay Kế Đăng Lục của Việt Nam đều ghi Lộc Môn Tự Giác là đệ tử đời thứ 5 của Đơn Hà Tử Thuần, nối pháp Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Thiên Đồng Như Tịnh hơn 100 năm thì sao có thể là đệ tử Như Tịnh được? Rất nhiều chùa Tào Động ở Ngoài Bắc Việt Nam vẫn còn nhầm lẫn về thế hệ tông phái, viết dư 5 đời từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh mà không khảo cứu biên niên kỹ càng.
  2. ^ Những vị không có tư cách thiền sư sẽ không được ghi vào đây. 1) Phải là người tu theo tông chỉ, phương pháp đốn ngộ của Thiền Tông. 2) Đã minh tâm kiến tính , triệt ngộ 3) Được thầy đã kiến tính ấn chứng và truyền pháp(có thể bỏ qua)