Tâm Việt Hưng Thù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Tâm Việt Hưng Thù, bản vẽ lưu tại bảo tàng Nhật Bản.

Tâm Việt Hưng Thù (zh: 心越興儔, ja: Shinotsu Kōchū, 1639-1696), thiền sư Trung Quốc, còn gọi là Đông Cao, thuộc phái Thọ Xương-Tào Động Tông. Cuộc đời hoằng pháp của sư đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc truyền Thiền Tôngtông Tào Động sang Nhật dưới thời Minh-Thanh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bút tích của sư

Sư sinh ngày 21/8/1639, là con nhà họ Tương, quê ở phủ Kim Hoa, Hàng Châu. Từ nhỏ sư đã có ý chí xuất trần, đi dến Báo Ân Tự ở Ngô Môn lễ bái người chú- cũng là một vị tăng sĩ hiệu Liễm Thạch cạo tóc xuất gia và hầu hạ thờ thầy, sau cũng thọ giới cụ túc với vị này.

Trên bước đường tham vấn Thiền cơ, đầu tiên sư đến yết kiến Thiền sư Giác Lãng Đạo Thịnh thuộc phái Thọ Xương. Sau đó, vào năm 1668, vì Thiền sư Giác Lãng già yếu nên chỉ sư qua yết kiến môn đệ pháp tử của mình là Thiền sư Khoát Đường Đại Văn. Dưới sự giáo hóa của Thiền sư Khoát Đường, sư dần có sở ngộ và cuối cùng đạt kiến tính qua việc tham công án Con chó của Triệu Châu. Chỉ sau hai năm làm thị giả của Thiền sư Khoát Đường, sư được ngài ấn khả chứng minh và truyền pháp Tào Động Chính Tông cho sư.

Thời thế biến đổi, lúc nhà Minh bị diệt vong và nhà Thanh lên cầm quyền, sư lui về ẩn cư tại Vĩnh Phúc Tự ở bên Tây Hồ. Lúc bấy giờ có Pháp sư Trừng Nhất- người nhật bản, trụ trì tại chùa Hưng Phúc Tự(ja: Kōfuku-ji) ở Nagasaki, đây là ngôi tổ đình của Pháp Tướng Tông tại Nhật. Trừng Nhất vì mến mộ đức hạnh của sư nên trước khi viên tịch viết di thư thỉnh sư sang Nhật hoằng pháp, Đáp lại lời thỉnh cầu đó, vào năm 1677, sư đi thuyền sang Nhật. Lúc mới đến Nhật, do có một số kẻ xấu thuộc tông phái bản địa khác sợ sự hoằng hóa của sư sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ nên sàm tấu gán tội cho sư, và sư bị bắt giam. Nhưng nhờ lời thỉnh cầu của Thủ Hộ Tokugawa Mitsukuni, nên sư được thoát nạn.

Năm 1683, sư đến trụ trì hoằng hóa tại chùa Thiên Đức Tự ở thành phố Mito, và sau đổi hiệu ngôi chùa này lại thành Kỳ Viên Tự(zh:Gion-ji). Ngoài ra sư còn đến một số ngôi chùa địa phương khác để thuyết pháp, làm Phật sự theo lời mời của một số vị tăng ở các ngôi chùa đó: Sư Đơn Tâm ở chùa Tổng Ninh Tự, sư Liên Sơn ở Đại Trung Tự, Độc Am ở Kính Sơn Tự.

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Đến năm 1692, sư khai đường thuyết pháp ở chùa Kỳ Viên Tự, tương truyền có 1700 vị Thiền tăng vân thủy(hành cước) đến đây tham học.

Vào ngày 29/9/1696, sư nhuốm bệnh nhẹ, bèn cho gọi pháp tử là Thiền sư Ngô Văn Pháp Đàm- người Nhật đến truyền trao y bát rồi đến hôm sau sư ngồi kiết già đọc Thiền kệ dạy chúng lần cuối rồi an nhiên thị tịch. Sư hưởng thọ 57 tuổi, 49 hạ lạp.

Sư để để lại có Đông Cao Toàn Tập (東皐全集), 2 quyển. Do các môn đệ người Nhật soạn và lưu hành, đến nay vẫn còn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.