Ngũ Tổ Pháp Diễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Dị Thiền Sư

Thiền Sư Ngũ Tổ Pháp Diễn(五祖法演; C: wǔzǔ fǎyǎn; J: goso hōen; ~ 1024-1104) là một thiền sư Lâm tế tông đời thứ 10, phái dương kỳ. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền Sư Bạch Vân Thủ Đoan. Sư có nhiều đệ tử nối pháp làm tông môn Lâm Tế về sau nổi bật nhất là  Viên Ngộ Khắc Cần (Phật Quả), Thanh Viễn Phật Nhãn, Huệ Cần Phật Giám được xem là Ba ông Phật.

Cơ duyên và hành trạng:[sửa | sửa mã nguồn]

Sư họ Đặng, sinh năm Giáp Tý (1024) tại Ba Tây, Miên Châu (Miên Dương, Tứ Xuyên). Năm 35 tuổi, Sư xuất gia thọ giới Cụ túc, sau đó đến Thành Đô học luận Bách Pháp và Duy thức.

Sư lần lượt đến tham vấn các thiền sư như: Thiền Sư Viên Chiếu Tông Bổn, Thiền sư Phù Sơn Pháp Viễn. Nhưng chẳng đại ngộ.

Sư được Thiền sư pháp viễn phó chúc tới tham vấn với Thiền Sư Thủ Đoan và được đại ngộ. Sự việc này đã được ghi lại như sau: Một hôm Sư nhắc vị Tăng hỏi Nam Tuyền về châu ma-ni để thưa hỏi. Bạch Vân liền nạt. Sư lãnh ngộ bèn làm kệ:

山 前 一 片 閑 田 地  Sơn tiền nhất phiến nhàn điền địa Trước non một mảnh nhàn điền địa

叉 手 叮 嚀 問 祖 翁  Xoa thủ đinh ninh vấn tổ ông   Tay chấp tận tình hỏi Tổ ông 幾 度 賣 來 還 自 買 Kỷ độ mãi lai hoàn tự mại Mấy độ bán ra rồi mua lại為 憐 松 竹 引 清 風   Vi lân tùng trúc dẫn thanh phong Vì thương tùng trúc dẫn gió lành.

Bấy lâu sau sư được triệt ngộ và được tổ Bạch Vân Thủ Đoan ấn chứng trở thành pháp tự.

Sau sư cáo biệt Thiền Sư Bạch Vân đến hoằng hóa tại chùa Tứ Diện, sau dời về Bạch Vân và cuối cùng về núi Ngũ Tổ ở Đông Sơn nên người đời gọi Sư là Ngũ Tổ Pháp Diễn.

Niên hiệu Sùng Ninh thứ 3, triều vua Huy Tông nhà Bắc Tống, Giáp Thân (1104), ngày 25 tháng 6, Sư thượng đường từ biệt chúng:"Hòa thượng Triệu Châu có câu rốt sau, các ông làm sao lãnh hội, thử ra nói xem? Nếu lãnh hội được chẳng ngại sống thong dong tự tại, bằng chưa được thế, việc tốt này làm sao nói?"

Sư im lặng giây lâu nói:

Nói thì nói rồi, chỉ là các ông chẳng biết. Cần hiểu chăng? Giàu hiềm ngàn miệng ít, nghèo hận một thân nhiều. Trân trọng!"

Sư rời pháp tòa về trượng thất tắm gội sạch sẽ, nằm cát tường thị tịch.

Sư có để lại cuốn " Pháp Diễn Thiền Sư Ngữ Lục.

Công án[sửa | sửa mã nguồn]

Sư có để lại một công án Thiền nổi tiếng được Thiền Sư Huệ Khai biên soạn vào tập Vô Môn Quan, nó được ứng dụng rộng rãi trong việc tu thiền, Nhiều thiền sư đặc biệt là ở Nhật vẫn thường trao cho các thiền sinh công án này.Đó là tắc thứ 38: "Con trâu qua cửa".

Tắc:

Lời Bình của Thiền Sư Huệ Khai:

Kệ Tụng:(Trích tập "Vô Môn Quan)

過 去 墮 坑 塹 Quá khứ đọa khanh tiệm Quá bước lọt hố

回 來 卻 被 壞 Hồi lai khước bị hoại Lùi lại hại thân

者 些 尾 巴 子 Giả ta vĩ ba tử Cái đuôi trâu đó

直 是 甚 奇 怪 Trực thị thậm kỳ quái. Có thấy lạ chăng ?

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
  • Tập " Vô Môn Quan(The Gateless Gate), Thiền Sư Huệ Khai