Hương Nghiêm Trí Nhàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hương Nghiêm Trí Nhàn
香嚴智閑
200
Thiền Sư Hương Nghiêm Trí Nhàn
Tông phái Quy Ngưỡng Tông
Cá nhân
Sinh ?
Mất 898
Chức vụ
Chức danh Thiền sư
Tiền nhiệm Bách Trượng Hoài Hải
Quy Sơn Linh Hựu
Kế nhiệm Diên Khánh Pháp Đoan
Nam Thiền Vô Nhiễm
Phật Nham Huy
Hoạt động tôn giáo
Sư phụ Bách Trượng Hoài Hải
Đồ đệ Diên Khánh Pháp Đoan
Nam Thiền Vô Nhiễm
Phật Nham Huy

Hương Nghiêm Trí Nhàn (香嚴智閑; C: xiāngyán zhìxián; J: kyōgen chi-kan) (?-898:724-814) là một thiền sư Trung Hoa sống vào đời Đường. Sư thuộc Quy Ngưỡng Tông đời thứ nhất, nối pháp Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu. Sự ngộ đạo của sư khá đặc biệt, vì vậy nó được nhắc rất nhiều trong thiền tông. Từ đó nêu lên phong cơ hoằng hóa bất khả tư nghị của Tổ Sư.

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Sư quê ở Thanh Châu, từ nhỏ chán cảnh trần thế. Sư bèn đi xuất gia, đến tham vấn học đạo ở nhiều nơi. Sau sư đến tham học nơi Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư học rộng hiểu nhiều, sư thông nhiều kinh điển, biện luận vô ngại nhưng chẳng ngộ đạo. Sau khi Bách Trượng tịch sư đến ở với Thiền Sư Quy Sơn là sư huynh đệ đồng môn của sư. Quy Sơn bảo sư Hãy nói một lời trước khi cha mẹ chưa sinh. Sư không đáp được, bèn lật hết các kinh sách nhưng vẫn không tìm ra được. Sư xin Quy Sơn chỉ bảo, nhưng bị Quy Sơn khước. Sư tự than trách rồi về thất đốt hết sách vở. Sư từ biệt Quy Sơn ra đi.

Sư bèn đến Núi Nam Dương (Nơi di tích của Thiền Sư Huệ Trung). Tại đây sư chú tâm làm ruộng, tu hành. Một hôm sư đang cuốc đất, lượm hòn đá ném trúng cây tre vang lớn. Sư chợt tỉnh ngộ phá lên cười. Sư bèn trở về tắm gội thấp hương, nhắm hướng Quy Sơn đảnh lễ để cảm tạ. Sư làm bài kệ:

Nguyên Bản:

一擊忘所知。更不假修治

動容揚古路。不墮悄然機

處處無蹤跡。聲色外威儀

諸方達道者。咸言上上

Việt dịch:

Tiếng dội lùm tre quên sở tri

Có gì đối trị giả tu tri

Ðổi thay thần sắc nêu đường cổ

Nếp cũ tiêu điều chẳng trệ si

Chốn chốn dạo qua không dấu vết

Sắc thanh nào nhiễm được uy nghi

Mười phương đạt giả đều như vậy

Tối thượng là đây biết nói gì (Trúc Thiên dịch)

Sau khi biết được. Quy Sơn nhận sư đã triệt ngộ, bèn cử Ngưỡng Sơn đến khảo sư. Sư bèn 2 bài kệ, qua đây nói lên Ý chỉ Như Lai thiềnTổ Sư Thiền. Qua đây Quy Sơn và Ngưỡng Sơn đều ấn chứng công nhận sư đã đạt đạo.

Sau sư về giáo hóa tại Hương Nghiêm, học chúng đến rất đông. Sư tùy cơ dạy chúng đơn giản, sư có làm trên 200 bài kệ ứng đối đơn giản không theo quy luật, các nơi truyền bá rất thịnh.

Không biết sư tịch ở đâu, khi nào.

Pháp Ngữ và Công Án Thiền[sửa | sửa mã nguồn]

Sư thượng đường dạy chúng:" Đạo do ngộ mà đạt, chẳng tại ngữ ngôn, huống là thấy miên mật rỡ rỡ chưa từng cách rời, chẳng nhọc tâm ý. Tạm nhờ hồi quang phản chiếu, hằng ngày công dụng trọn vẹn, kẻ mê thì tự trái."

Sư bảo chúng: "Ví như người leo lên cây cao, dưới là vực thẳm ngàn thước. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi "ý Tổ sư từ Ấn Độ sang". Nếu mở miệng đáp thì mất mạng nát thân, bằng chẳng đáp thì phụ lòng người hỏi. Chính khi ấy phải làm sao?"

Khi ấy có Thượng tọa Chiêu bước ra thưa:

- Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thì thế nào?

Sư cười rồi thôi.

Có vị Tăng từ Qui Sơn đến, Sư hỏi: "Những ngày gần đây Hòa thượng có dạy những câu gì?" Tăng thưa: "Có người hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, Hòa thượng liền dựng đứng phất tử.? Sư hỏi tiếp: "Trong ấy huynh đệ hiểu ý Hòa thượng thế nào?" Tăng thưa: "Trong ấy bàn với nhau rằng "chính nơi sắc mà rõ được tâm, gá nơi vật mà hiển được lý?" Sư bảo: "Hội thì liền hội, chẳng hội mắc kẹt nơi ấy chết gấp." Tăng lại hỏi Sư: "Ý Thầy thế nào?" Sư liền giở phất tử lên.

Sư có làm bài kệ:

 Tử thốt mẫu trác (Con kêu mẹ mổ)

 Tử giác mẫu xác (Con biết mẹ vỏ)

 Tử mẫu câu vong (Con mẹ đều quên)

 Ứng duyên bất thát (Hợp duyên chẳng lố).

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Từ điển Thiền Tông Hán Việt. Hân Mẫn & Thông Thiền biên dịch. TP HCM 2002.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.