Đại Huệ Tông Cảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đại Huệ Tông Cảo  (1089–1163) (T.trung: 大慧宗杲; Phiên âm: Ta-hui Tsung-kao;T.Nhật: Daie Sōkō)là một thiền sư Lâm Tế tông đời thứ 12. Sư là một trong những đệ tử xuất sắc

Đại Huệ Tông Cảo
大慧宗杲
Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo.jpg
Tông pháiLâm Tế Tông
Cá nhân
Sinh1089
Mất1163
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmViên Ngộ Khắc Cần
Kế nhiệmDi Quang Hối Am
Đạo Nhan Vạn Am
Đảnh Nhu Lại Am
Thủ Tịnh Thử Am
Đức Quang Phật Chiếu
Hoạt động tôn giáo
Sư phụViên Ngộ Khắc Cần
Đồ đệDi Quang Hối Am
Đạo Nhan Vạn Am
Đảnh Nhu Lại Am
Thủ Tịnh Thử Am
Đức Quang Phật Chiếu

của Viên Ngộ. Từ sư pháp " Tham thoại đầu" bắt đầu được ứng dụng rộng rãi , sau này trở thành một phương pháp tu hành phổ biến trong Tông Lâm Tế nói riêng và Thiền Tông nói chung, đối lập với pháp Thiền Mặc Chiếu của Tào Động tông. Sư là người đã thành lập Phái Đại Huệ, một trong các chi nhánh của Phái Dương kỳ, Lâm Tế tông. Dưới sư có hơn 94 đệ tử ngộ đạo được nối pháp,cùng nhiều cư sĩ tham thiền khai ngộ, sư cơ phong cao vút, hết lòng vì người tham học xiển dương Thiền Tông nên còn được xem là Tổ trung hưng của Tông Lâm Tế . Sư đương thời được các Tùng Lâm tôn xưng là một trong hai nhị vị cam lồ môn, người còn lại là Thiền Sư Hoằng Trí Chính Giác của Tông Tào Động. Ngữ lục và lời dạy, tông phong của sư vẫn còn tiếng vang tới ngày nay.

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bức Họa Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo

Sư quê ở Ninh Quốc Tuyên Châu, con nhà họ Hề. Năm 13 tuổi, Sư đi học theo Nho giáo ở Phát Mông, học chưa được nửa tháng liền bỏ đi xuất gia. Năm mười bảy tuổi, Sư được làm Tăng thọ giới cụ túc. Tuy Sư tuổi nhỏ đã biết có việc trong tông môn. Sư xem hết các Ngữ lục, thích nhất là lời Vân Môn, Mục Châu. Sư nghi Ngũ gia tông phái buổi đầu chỉ một Tổ Đạt-ma, vì sao lại có nhiều môn đình? Song tánh Sư cao siêu không chịu ràng buộc. Cha mẹ khuyên Sư đi du phương.

Sau đó sư đến tham vấn các thiền sư Triệu Trình ở Minh Giáo. Tại đây sư có ngộ nhập pháp Thiền.

Sau đó sư đến tham vấn các Thiền Sư của Tông Tào động là Thủ tọa Nguyên ở Đại Tùy, Hòa thượng Vi ở Động Sơn, Thị giả Kiên. Hòa thượng Vi làm thủ chúng ở Phù Dung.Nhờ đó mà sư thấu được Tông chỉ của Tông Tào Động.

Rồi sư đến tham vấn lần lượt tham vấn Thiền Sư Triết, Khánh, Hối Đường, Đông Lâm, Chiếu Giác nhưng không hợp.

Sau sư đến gặp thiền sư Trạm Đường, ở tu với Trạm Đường được bấy lâu thì Trạm Đường tịch. Trạm Đường dặn sư đến tham vấn thiền sư viên ngộ.

Khi đó Viên Ngộ từ Tương Sơn đến  chùa Thiên Ninh tại Đông Kinh trụ trì. Sư bèn đến đó tham thiền, trải qua một năm tham thiền mà sư vẫn chưa đại ngộ.Sự ngộ đạo của sư được kể lại thông qua công án sau:

Một hôm, tổ Viên Ngộ thượng đường thuyết pháp. Nghe pháp xong, ngài liền tỏ ngộ, tổ bèn sách tấn thêm. Ngài hỏi: Bạch hoà thượng! Hữu cú vô cú như dây leo bám cây, nghĩa ấy thế nào?

Tổ đáp: Vẽ mãi không được, tả hoài chẳng xong!

Sư hỏi: Nếu cây ngã, dây khô thì thế nào ?

Tổ đáp: Thì chết theo vậy.

Ngài vui mừng nói: con đã hiểu ra rồi!

Sư đến trụ tại Cổ Vân Môn, Hồ Nam, Giang Hữu, Mân, am vân môn. Tại đây cũng có nhiều đồ chúng đến tham học, người đắc pháp nhiều.

Bút Tích của Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo

Về sau, Trương Nguỵ thỉnh ngài về trụ ở Kính Sơn, đồ chúng theo tham học đến hai nghìn người. Do tể tướng Tần Cối ganh ghét sàm tấu, sư bị giáng chức một thời gian. Sau sư được tự do đến chùa Dục vương trụ trì. Vua Hiếu Tông cũng là đệ tử của sư. Hai năm sau sư được ban danh hiệu" Đại Huệ Thiền Sư".

Sư có để lại cuốn ngữ lục: Thiền Sư Đại Huệ ngữ lục rất nổi tiếng đến nay vẫn được dùng trong Thiền môn.

Vào niên hiệu Long Hưng thứ nhất(1163), đời Tống Hiếu Tông, sư có chút bệnh liền nói với đệ tử:

-Ngày mai ta sẽ đi!

Đến canh năm hôm ấy, sư đích thân viết di biểu và thư cho Trương Ngụỵ. Thị giả thỉnh kệ, sư viết xong, an nhiên thị tịch tại Minh Nguyệt Đường ở Cảnh Sơn. Vua ban hiệu là Phổ Giác, tháp hiệu là Bảo Quang.Trước khi tịch sư có làm bài kệ:

 Sanh cũng chỉ thế ấy

Tử cũng chỉ thế ấy

   Có kệ cùng không kệ

   Là cái gì quan trọng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.